Hôm nay,  

Đôi Mắt Xếch

14/01/202614:30:00(Xem: 759)
minh hoa Đinh Cường
Minh họa: Đinh Cường

 

 

Khi quân Bắc tràn vào miền Nam, tôi còn độc thân và ở chung với cha mẹ và gia đình anh tôi. Tôi ở trong quân ngũ nên ít khi về nhà.

 

Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.

 

Tôi lang thang mãi cuối cùng một người bạn thân từ thời Trung Học cho tôi một cái ghế bố nhỏ kê bên chái hiên nhà anh, chái hiên khá rộng cho một cái ghế bố và một góc sát bếp có thể treo quần áo và hai cái thùng cạc tông đựng đồ cá nhân. Ngôi nhà trên thì cán bộ ngoài Bắc vào chiếm, cho gia đình anh, hai vợ chồng và hai đứa con gian nhà ngang sát bếp. Anh tử tế vừa chỉ bảo vừa giúp tôi thuê ngày (thuê ngày nào trả tiền ngày đó) một chiếc xích lô để kiếm sống. Tôi đã mất hết chẳng còn gì nhưng còn mạng sống là còn muốn tìm lại gia đình mình.

 

Tôi gặp thằng bé trong một buổi chiều nhá nhem tối, khi tôi ghé vào cái quán cơm bình dân để ăn bữa cơm chiều. Cái quán chuyên bán thức ăn cho người lao động, những anh xe ôm, anh xích lô, những thằng bé lem luốc, mồ côi tại chỗ, chạy đầy đường kiếm sống mà thường không biết chúng làm gì để kiếm sống. Thằng bé bước vào quán với những bước đi không vững, nó ghé sát bà bán quán, chìa tay ra một số tiền, chắc là vừa đủ cho một bát cơm hẩm không thịt, cá. Tôi nhìn cái lưng áo rách bươm của nó mà chạnh lòng, nó còn khổ hơn mình. Thằng bé nhận phần cơm quay ra, tôi chết sững khi chạm mắt mình vào đôi mắt nó, đôi mắt của anh tôi, tôi không thể nào nhầm được, đó là thằng con thứ hai của anh tôi, nó có đôi mắt giống hệt mắt của anh tôi… không thể nào nhầm được. Tôi nhớ khi người miền Bắc tràn vào Nam tôi bị đi cải tạo, cháu tôi lên 8. Bây giờ nó khoảng 11,12 tuổi, tên nó là Hòa.Thằng bé ngửng đầu lên chạm vào mắt tôi, nó sựng lại một giây, rồi cúi nhìn xuống đất, tay cầm bát cơm đi nhanh ra cửa. Tôi đứng phắt dạy chạy theo nó, nhưng hình như nó biết có người đuổi theo, nó trốn ngay vào một con đường hẻm nào đó gần nhất mà tôi tìm không ra.

Tôi lủi thủi bỏ cả bát cơm tìm về chỗ trọ của mình. Cả đêm lăn qua lăn lại trên cái ghế bố, tôi không thể ngủ lại được. Nếu nó đúng là cháu mình thì sao nó phải chạy trốn, nó phải vui vì nó gặp lại được một người thân chứ? Cả trăm câu hỏi cứ trong đầu tôi, lăn qua lăn lại mãi, tôi vẫn không thể ngủ được, hình ảnh thằng bé với đôi mắt rất đẹp cứ hiện ra trước mặt tôi.Đôi mắt to và hơi xếch của anh tôi và cháu tôi chỉ hai người trong gia đình có. Cha tôi nói: Họ thừa hưởng đôi mắt của Ông Cố, nhưng ông Cố chúng tôi mất từ khi Cha tôi còn rất trẻ mà nhà tôi chỉ có hình ông Nội, chứ không có hình ông Cố.

Sau lần gặp đó thằng bé biến mất, không hề thấy nó tìm đến quán cơm. Tôi hỏi mấy thằng bé lang thang cũng cỡ tuổi nó về “một thằng bé có đôi mắt xếch” thì mấy đứa nhỏ này cũng không biết tại sao nó biến mất. Chúng cho biết là “thằng mắt xếch” đó ít chơi với chúng và thường đi một mình. Thỉnh thoảng lại biến mất, rồi lại hiện về, nhưng nó thích nhất là đi về phía biển. Hay Chú ra đó tìm thì may ra thấy nó.

 

Tôi cứ ngày ngày vừa chạy xe kiếm sống vừa ráo rác tìm cháu, thấy đứa trẻ nào trạc tuổi nó, tôi cũng cố vượt lên nhìn tận mặt, rồi thất vọng.

Từ chỗ tôi ra biển cũng gần một cây số, nếu tôi muốn đi tìm cháu, thì không thể ở đây được, mà ở đây thì không thể vừa đạp xe kiếm sống vừa tìm cháu.

Cuối cùng tôi trả xe, giắt một ít tiền còn sót lại, đi về phía biển. Muốn ra sao thì ra, phải đi tìm cháu đã. Bây giờ cả thế giới này chỉ còn hai chú cháu, tôi phải tìm cho ra, vì tôi không biết gia đình anh tôi có thoát được tới bờ bến an bình nào không, hay đã làm mồi cho cá?

 

Tôi đi về phía biển mất hai ngày, tôi may mắn kiếm được việc dọn dẹp bãi cho những quán ăn sát bờ biển. Nhờ chăm chỉ và sạch sẽ nên tôi không bị thất nghiệp. Các quán ăn giới thiệu tôi cho nhau.

 

Tôi vừa làm việc vừa để ý tìm cháu. Một hôm tôi đang lúi húi dọn rác, khi ngửng lên tôi thấy một cặp vợ chồng trẻ, chắc vừa ở xa tới, họ bước vào quán, theo sau có một thằng bé rách rưới xách cái vali to hơn người, đi xiêu vẹo, Tôi nhìn kỹ thì đúng là “thằng bé mắt xếch”. Tôi vội vàng nghiêng người đi một chút để nó không nhìn thấy tôi,rồi vơ đống rác vào thùng, xong tôi chuồn vào trong bếp, nhìn qua khe cửa và nhìn ngắm từng nét trên mặt nó: “Thằng mắt xếch, nó đúng là cháu tôi.

 

Cứ thế trong hai tuần liền tôi ngắm nghía nó làm việc qua khe bếp, đôi khi tôi bị la vì không nghe thấy tiếng chủ gọi. Tôi đi tìm cháu nhưng lại sợ cháu biết mình đi tìm sẽ chạy trốn như lần trước.

 

Bẵng di vài hôm tôi không thấy nó làm công việc đón khách, sách hành lý nữa. Tôi hỏi bà chủ quán, thì bà nói:

- Thằng bé mắt xếch đó nghe đâu nó có gia đình vượt biên chết ở ngoài khơi nên nó lâu lâu lại bỏ việc vài ba ngày ra ngồi nhìn sóng biển gọi tên những người thân trong gia đình và ngủ ngay trên bãi. Muốn tìm nó thì cứ đi vòng về phía bãi sau, nơi đó trước kia người ta khởi hành ra biển.

Tôi xin bà chủ cho nghỉ hai ngày. Tôi ra bãi sau tìm cháu….

 

Vào một buổi chiều biển rất êm, những con sóng nhỏ vỗ nhẹ vào bờ rồi lại rút ra. Tôi nhìn thấy cái lưng gày gò trong chiếc áo cũ rách.Cái lưng quay vào bờ, cái đầu còn xanh tóc bù xù úp mặt vào hai đầu gối.

 

Tôi ôm cháu vào ngực mình bằng cả hai tay, ngực áo tôi đầm đìa thấm những giọt lệ chẩy ra từ đôi mắt xếch, đôi mắt của ông Cố, của anh tôi và của cháu.

Tôi hỏi cháu:

-       Tại sao con lại chạỵ trốn Chú?

-       Tại Chú giống Ba con và rồi Chú cũng sẽ bỏ con nên con không muốn mình lại bị bỏ thêm một lần nữa.  Nó vừa nói vừa khóc.

 

Tôi ôm chặt cháu vào lòng, nói:

-       Không, không bao giờ Chú bỏ con, Chú sẽ ở lại đây, trên bờ biển này mãi mãi với con và nếu có đi đâu thì hai chú cháu mình đi với nhau. Đừng khóc nữa.

 

Sóng cứ theo nhau xô mãi vào bờ.Thằng bé nắm chặt tay chú bằng cả hai bàn tay nhỏ. Đôi mắt xếch rất đẹp của nó, đầm đìa lệ.

 

Trần Mộng Tú 

Cuối năm 2025 (Viết theo một giấc mơ)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Những yếu tố lôi cuốn du khách đi du lịch đến một đất nước bao gồm cảnh đẹp thiên nhiên, văn hóa, thành phố lớn với những lối kiến trúc độc đáo, cuộc sống sôi động, ẩm thực, hoạt động phiêu lưu, kỳ thú ngoài trời, những buổi hòa nhạc, thể thao, nghệ thuật, hay lễ hội, địa điểm hành hương tôn giáo, phương tiện giao thông, vấn đề an ninh và bình yên; trong văn hóa, yếu tố con người chiếm một phần rất lớn khiến du khách khi rời xa, vẫn lưu luyến muốn trở lại lần nữa.
Nếu quý vị độc giả nào đã đọc câu chuyện tình cảm éo le, oan trái tràn đầy nước mắt: "Thằng Cu Tí và Thằng Cu Tèo" và nếu quy vị nào chưa đọc, thì xin hãy mở Google.com sẽ thấy đế tài này thuật lại 2 vị cao niên về thăm VN để hưởng tuần lễ trăng thanh gió mát quê nhà, sau nhiều năm phải rời bỏ quê hương để sống tha hương ngàn trùng xa cách nơi đất khách quê người đi tìm sự tự do. Nay mới có dịp được quay trở về thăm quê cha đất tổ, đồng thời còn được thưởng thức những món ăn đặc sản quê hương
Tôi lắng nghe, ngạc nhiên nhiều hơn thương cảm. Một người như Tầm mà bị lường gạt về lãnh vực 'xương máu' của mình. Tôi có thể hiểu và cảm thông an ủi trong mọi hoàn cảnh đau buồn, thất vọng của người thân chung quanh. Nhưng tôi lại rất vụng về khi phải đề cập đến mọi giao cảm đối với những con số. Tôi không có duyên phận và chung đường với nó. Nên tôi chỉ biết yên lặng, chờ đợi.
Lúc xưa thật xưa, người Việt Nam ta có tục lệ bầy cỗ Trung Thu vào dịp tết trăng tròn tháng 8 âm lịch. Cỗ này thường để dành cho trẻ con, vừa vui Trung Thu, vừa ăn bánh vừa ngắm trăng tròn, sáng tỏ. Thường cỗ này gồm phần lớn là bánh Trung Thu, bánh dẻo bánh nướng và rất nhiều thứ trái cây, trái cây chánh là bưởi, bưởi hồng đào ngọt và tròn xoay như một vầng trăng. Ăn bưởi xong, có thể sâu hột trái bưởi, phơi khô đi sem sém, và có thể đốt hạt bưởi từng sâu như đốt nến, đèn cầy.
Tường Vi sinh ra lớn lên từ miền “quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo hè thời thiếu cơm”. Trước 1975, ba Vi có chức vụ lớn trong quân đội, làm việc tại Đà Nẵng cuối tuần mới ra Huế. Gia đình Vi ở bên kia bờ Sông Hương nằm trên đường Nguyễn Công Trứ, khu nhà vườn rộng mênh mông có bến sông sau, trước ngõ trồng hàng loạt hoa Tường Vi. Mẹ rất thích loại hoa này, nên đặt tên Vi giống loài hoa. Vi có bốn chị em gồm hai em trai (Vinh, Lộc) và gái út (Tường Như), Vi là chị đầu đàng. Năm 13 tuổi vì thi rớt nên phải học trường tư thục Bồ Đề đến năm lớp tám, ba Vi từ Đà Nẵng dẫn theo người thanh niên về Huế giới thiệu tên Sơn, ra Huế học đại học luật khoa, sẽ dạy kèm chị em, làm gia sư ăn ở trong nhà luôn. Vì tò mò hỏi mạ
Sau này, mỗi khi muốn kết bạn với ai, tôi thường nghĩ về Bi, về lúc Bi cầm tay tôi cho con Nâu ngửi với sự trấn an vô tư của trẻ con thời khó khăn nhất. Chúng tôi không có đồ chơi, không có không gian lớp học năng khiếu, thi tài, không có những cuộc chạy đua đồ đạc mới hay chôm đồ đạc của nhau trong lớp học. Chúng tôi chỉ có bàn tay, con Nâu, đường đất đỏ về nhà và một bờ sông nguy hiểm.
Kể cả sau khi ra trường đi dạy, góc nhìn chọn lựa đàn ông của tôi rất giới hạn. Không cần đẹp trai, nhưng không thể xấu. Không quá cao, cũng không thể lùn. Không ăn diện thời trang, cũng không quê mùa. Không nói nhiều, cũng không câm nín. Không cần thông minh, nhưng đừng ngu khờ. Không cần làm anh hùng, nhưng đừng hèn nhát. Nhưng các tiêu chuẩn này không có nghĩa tôi sẽ chọn người trung bình.
Một ngày cuối tháng tám, vợ chồng tôi chở anh chị đi chơi, ăn uống; đang ăn bỗng dưng anh nhìn xa xăm, nói vu vơ như không cần người nghe: - Tôi cần một phương pháp trợ tử! Tôi giật mình lo lắng đưa mắt nhìn chị, nước mắt đong đầy trong hốc mắt, chị nhẹ nhàng tâm sự: - Ai cũng phải đến ngày đó thôi! Anh đã chịu đựng đau đớn mỗi lần lọc thận về, ăn uống không được ngon miệng nữa, ngủ nửa đêm thức giấc vì nóng hay lạnh quá, không được uống quá nhiều nước cho dù có khát cách mấy vì thận đã không làm việc nổi. Anh lại thương chị mỗi khi thấy chị cực giúp anh làm vệ sinh cá nhân. Con cái ở xa, chúng có cuộc sống riêng, đâu thể lúc nào cũng kề cận lo cho cha mẹ mãi được, khi cần chúng có thể đến giúp có hạn mà thôi…
Tuy không còn ở đó nhưng hắn vẫn thường nhớ những chiếc lá vàng trên cây khế nhẹ rơi, giàn hoa giấy rực rỡ cười với nắng trước mưa chiều. Cái máy hát cũ kỹ với băng đĩa nhão vừa hợp với nhạc sến, “tình chỉ đẹp khi còn dang dở…” Hắn gởi gió cho mây ngày bay một đoạn đời hư thực huyền ảo như lời nhạc rả rích từ cái máy hát lớn tuổi hơn hắn lúc bấy giờ khi những toan tính về tương lai chưa có đáp số thì bài toán một với một đã không bao giờ là hai từ khi em lấy chồng.
Chiếc Airbus A380 của hãng hàng không Emirates từ từ đáp nhẹ nhàng xuống phi trường quốc tế Tokyo Narita. Airbus A380 là loại máy bay khổng lồ, có thể chứa trên 500 hành khách, chỗ ngồi rộng rãi, thoải mái và bay rất êm...
Tuy Hòa, nơi tôi sống quãng đời thơ ấu, là một thành phố nhỏ hiền hòa nằm sát bờ biển, giống như nàng “Mỹ Nhân Ngư” phơi tấm thân kiều diễm trên bãi cát trắng tinh. Nàng dựa đầu trên núi Chóp Chài, đôi mắt mơ màng nhìn ra biển Đông, nghe gió thổi vi vu qua những bãi thùy dương dày đặc trên bãi biển Đại Lãnh, đầu đội vương miện hình Tháp...
Hôm nay, tôi lại có dịp ghé vào “cõi riêng” của tôi để lau dọn, quét bụi. Nhìn thùng sách nằm nơi góc phòng, tôi nhớ anh Quang, không dám mở thùng sách ra, rồi chẳng hiểu sao, lại tha thẩn ngồi xuống ngắm nghía những cuốn albums và tủ sách của riêng mình. Tôi nhẹ nhàng lấy ra từng cuốn sách, xem tựa đề, để tâm hồn lại lang thang trôi về quá khứ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.