Hôm nay,  

Ngứa

03/04/202600:00:00(Xem: 52)

ngua

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

 
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.

Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.

Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì.

Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.

Không phải theo cách nhớ thương. Mà theo cách người ta nghĩ đến một đôi giày đã mang quen, vẫn còn dùng được, vẫn không rách, nhưng mỗi sáng xỏ vào là có cảm gì đó không vui, có vẻ hơi nặng hơn hôm qua một chút.

Linh không làm gì sai. Đó chính là cái khó.

Nếu cô ấy làm gì sai thì đơn giản hơn nhiều. Nhưng Linh vẫn gọi anh mỗi tối, vẫn nhớ anh không ăn được hành, vẫn gửi những tin nhắn buổi sáng với dấu chấm than theo kiểu người thật lòng chứ không phải người đang cố gắng. Và Khoa đọc những tin nhắn đó với cảm giác của người nhận quà mà trong lòng biết mình sẽ không giữ nhưng lịch sự đủ để mỉm cười, rồi đặt xuống. Quên.

Em không làm gì sai cả. Câu đó sẽ là câu đầu tiên. Sau đó là gì? Là sự thật: anh chán, anh muốn chia tay, anh không xấu nhưng cũng không đủ tốt để ở lại. Giả yêu là việc anh không muốn làm, vừa mất thời giờ vừa tăng thêm khó chịu. Không biết người khác sao, khi giả yêu mà phải hôn là một việc, ớn. Anh đã nói những câu đó bốn lần rồi: công việc bận, hai đứa không hợp, anh không xứng đáng với em. Lần nào anh cũng tin vào chúng trong lúc nói. Điều đó có nghĩa là anh thành thật. Hoặc có nghĩa là anh giỏi tự thuyết phục đến mức không còn phân biệt được đâu là lý do, đâu là cái cớ.

Nhưng những câu nói đó bị nước mắt của Linh trôi đi. Nan giải. Anh muốn chuyện xấu nhưng muốn làm tốt. Ngày mai, anh phải dứt khoát hơn. Nói thẳng rồi quay lưng. Đừng kịp thấy nước ướt.

Nhưng quyết định đó không làm cho ý nghĩ dừng lại. Nó vẫn xoay. Xoay tròn. Rối quá. Người nóng lên. Rồi anh cảm thấy ngứa sau lưng.

Lúc đầu chỉ là một điểm nhỏ, giữa hai bả vai, đúng chỗ tay không với tới. Anh cựa mình. Ngứa hơn. Cái kiểu ngứa không chịu đứng yên một chỗ, gãi chỗ này nó nhảy sang chỗ khác, như thể nó biết anh đang đuổi theo.

Anh nhìn quanh, thấy cái nĩa ăn cơm trên bàn đầu giường, còn lại từ tô mì khuya hôm qua. Bốn móng nhọn, cán nhựa. Anh đưa ra sau lưng, cào.

Ừ. Đó rồi. Chà, đã quá.

Nhưng chỉ một lúc. Ngứa chạy. Lần này chạy nhanh và chạy chia nhánh ra khắp nơi.

Bỏ cái nĩa. Hai tay gãi nơi này, cào nơi kia, trước ngực, bã vai, sau mông, háng, nách, cườm tay, bắp chân, gãi cuồng loạn.

Tụt hết vải trên người. Gãi điên.

Não anh, không mời, không báo trước, bỗng bật lên hình ảnh cô Tư ở quê. Anh nhớ năm anh mười hai tuổi, đứng ngoài cửa buồng nghe người lớn nói chuyện bằng giọng thấp. Bà cũng bắt đầu như thế này. Ngứa sau lưng. Rồi lan ra. Rồi da bắt đầu dày lên ở những chỗ kỳ lạ, ngón tay bà mất cảm giác dần, không phải mất đột ngột mà mất từ từ, như ánh sáng tắt trong một căn phòng mà người ta quên không vào.

Nhà anh không ai nhắc tên bệnh. Chỉ nói cô bị bệnh ngoài da rồi im lặng theo cách người ta im lặng về những thứ làm xấu mặt dòng họ. Mãi lớn anh mới hiểu. Phong. Cùi.

Khoa gần như ngồi bật dậy.

Không. Vô lý. Thời đại này rồi.

Nhưng sợ hãi không cần lô-gic. Nó chỉ cần một khe hở nhỏ, rồi tự mình rót vào. Đêm hai giờ sáng, một mình, đang ngứa sau lưng và khe hở đó đủ rộng.

Môt hộc tủ trong trí nhớ kín được kéo ra. Đêm đó, anh đang ngủ, giật mình dậy vì tiếng động. Bà cô Tư trần truồng vừa gãi vừa xối nước bên bờ giếng cho bớt ngứa. Cảnh hai tay vung múa, đôi chân nhún nhảy, tóc tai như bụi cây. Cô Tư trông kinh dị.

Khi độ kinh dị giảm xuống, thân thể của người phụ nữ tuổi ba mươi dưới ánh trăng lu nổi bật, hằn sâu trong tâm trí cậu trẻ.

Đây là lần đầu tiên Khoa nhớ cô Tư ngứa. Những lần trước anh nhớ thứ khác.

Não anh chạy theo đường ray của nỗi sợ với cái tốc độ mà bình thường anh dùng để lên kế hoạch, để thuyết phục, để quyến rũ: nếu đúng thì sao? Da sẽ dày lên. Ngón tay mất cảm giác. Khuôn mặt mà Linh thường vuốt ve mỗi tối, sẽ như thế nào? Công việc. Bạn bè. Những ánh mắt trên đường. Tất cả những thứ anh dùng để biết mình là ai. Nếu những thứ đó mất đi thì còn lại gì?

Câu hỏi đó đứng giữa bóng tối, Khoa không có câu trả lời.

Không phải vì câu hỏi quá khó. Mà vì anh chưa bao giờ nghĩ đến nó. Người ta không hỏi còn lại gì khi mọi thứ vẫn còn nguyên đó.

Anh cố nằm im. Ai đó bày, ngứa, càng gãi càng ngứa. Anh ráng nằm im. Hai chân móc vào nhau. Hai tay nắm chặt nhau. Lấy gân toàn thân.

Cơn ngứa tràn lên, thủy triều với đàn cua trên mặt da. Rồi đàn kiến cắn dưới làn da. Rồi bầy ong chíc vào những nơi hiểm. Anh lấy gân. Gồng cứng.

Đúng như họ nói, sau một hồi thịnh nộ, cơn ngứa phát tiết, nó từ từ dịu xuống. Chậm. Tưởng yên. Lại nổi lên tuy nhẹ hơn. Rồi dần.

Anh thở phào.

Đột nhiên, nhớ móng tay Linh khá dài, cứng và nhọn. Anh cười khẽ. Giá mà lúc ngứa có Linh bên cạnh. Cô sẽ căng, hoảng và gãi loạn xạ, gia nhập với hai tay của anh. Cô sẽ muốn ngứa giùm anh. Cô đã từng nói, cô muốn buồn giùm anh, khi anh thất nghiệp. A, con nhỏ này tốt bụng. Cảm giác ấm cúng khi hít hơi vào. Có lẽ, anh không nên nói lời chia tay.

Anh quyết định: sáng mai đi bác sĩ. Thử máu.

Quyết định xong, anh thở ra khá dài. Trong cái thở ra đó có một thứ gì đó hơi giống nhẹ nhõm, hơi giống xấu hổ.

Cảm giác nóng rát khắp người nhất là sau lưng và ngực.

Anh nhận ra móng tay mình dài.

Không phải dài bất thường. Chỉ là lâu không cắt, và trong bóng tối nhìn lại những mảng anh vừa cào lên da, những vùng đỏ, rướm hồng, không ngứa nữa nhưng hơi đau.  

Móng tay anh mọc âm thầm, anh không để ý. Nghĩ đến chuyện móng tay lén mọc. Rồi bất ngờ, chúng nó giải quyết chuyện ngứa. Không gì thừa. Không gì thiếu.

Đến lúc nên cắt móng tay. Anh mở ngăn kéo đầu giường. Không có cái cắt móng tay. Vào nhà tắm. Lục hộp đồ. Không có. Lục ngăn kéo bàn làm việc, túi áo khoác sau cửa, hộc tủ giày nơi không cất gì ngoài giày, ngăn bếp nơi không nấu ăn bao giờ, vẫn không có.

Phòng anh bừa bộn theo cái kiểu anh gọi là thoải mái: giày đây, sách đó, áo vắt qua lưng ghế, ly nước để lăn lóc trên bàn cà phê. Anh quen nhìn qua nó, đi qua nó, như người ta quen nhìn qua những thứ không còn thấy nữa vì thấy hoài. Nhưng lúc này, đang lục, anh nhận ra rằng mình không biết bất cứ thứ gì của mình ở đâu.

Anh đạp lên chiếc tất, trợt chân, ngã.

Không nặng. Hông đập xuống sàn gỗ, đau nhói một cái rồi lan ra thành âm ỉ. Anh nằm yên. Không phải vì đau quá không đứng được, vì cảm giác mệt mỏi. Nằm đâu cũng được.

Bên ngoài, thành phố vẫn sống. Tiếng xe xa, tiếng gió qua khe cửa sổ không đóng kín bao giờ vì anh chưa bao giờ để ý sửa. Trong căn phòng, mớ đồ đạc vừa lục tung nằm im như bằng chứng. Cái nĩa bốn móng nhọn vẫn trên giường.

Kỳ lạ, mọi thứ đều có vị trí của nó đúng vào không gian và thời gian. Cho dù chúng bị xáo trộn, bị xô đẩy, vất bỏ, kể cả con người, mà vẫn đúng chỗ. Tồn tại. Kể cả cơn ngứa, chọn xuất hiện đêm nay, mở lộ ra điều mà anh đã biết nhưng đêm nay thấy rõ thêm. Yêu không chỉ là cuồng nhiệt thân xác.

Anh bắt đầu xoay quanh sự kỳ lạ vừa khám phá. Một lát, ý nghĩ bắt đầu rối. Tại sao người ta lại muốn sắp đặt mọi thứ?  Hơi thở có cần phải sắp đặt hay lên kế hoạch không? Không cần sắp xếp gì cả, cứ trôi theo dòng chảy, đến đoạn cuối, anh sẽ ra sao? Hiện diện theo cách nào? Rối quá.

Rồi, mồ hôi. Người nóng lên. Cảm giác có thứ gì lăn tăn, một điểm nhỏ sau lưng, giữa hai bả vai. Bắt đầu.
 
Ngu Yên 
 

Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.