Trang Thơ

01/06/202313:40:00(Xem: 3151)

hoa-ngoc-lan

T
hin vưn

 

1.

Ô hay, đất cỏ bời bời

Xanh như huyễn mộng, ngọt lời hoan ca

Cúi đầu niệm chú Ba la...

Cỏ chôn vào đất... hóa ra thiền vườn?

 

2.

Đếm ngày hạt tốt gieo ươm

Luân hồi hay dở, thiện lương dâng người

Hạt sương mưa móc ngậm cười

Một mai tách vỏ tái hồi mầm xanh!

 

3.

Hạt mưa, hạt nắng long lanh

Thiền trong thoáng chốc, trở thành nụ căng

Giấc hoa ngủ cùng vầng trăng

Và ôm trái mộng thưa rằng vô vi.

 

4.

Đậu cành kinh giới. Bướm bay

Buồn tim tím, lá hao gầy... tía tô

Con chim ngậm lá tần ô

Kinh Nam Hoa với Nam mô... buồn buồn?

 

5.

Tập tàng, rau nấu canh suông

Ngồi canh lửa... héo, vẽ tuồng, bôi râu

Chợt thiền, bướm hóa thành sâu

Cỏ vô tư hát, vườn sầu Nam ai...

 

Không đề 1

 

Một ngày xa phố viếng rừng
Mà nghe tiếng nước gọi từng tiếng non
Mà nghe “nước chảy đá mòn”
Ta quên ta giữa đời còn bể dâu...

 

Không đề 2

 

Suối thầm thì, suối ngân reo
Hình như tiếng suối qua đèo quanh co
Gió về gửi chút thơm tho
Ta nghe vô nhiễm hẹn hò vô ưu!...

 

Tháng Sáu ngi đan si mưa bay

 

Tháng sáu sợi mưa bay bay
Em xòe mười ngón bàn tay học trò

 

Mùa thi thôi gác hẹn hò
Sợi mưa tháng sáu giả đò ghé thăm

 

Đếm từng sợi mưa lâm râm
Tiếng mưa nứt vỡ nụ mầm xanh tơ

 

Sợi mưa đan … ướt câu thơ
Hai tay mười ngón như tờ giấy thơm

 

Tháng Sáu mưa như lâu hơn?
Sợi mưa làm ướt và trơn đường về.

 

Tháng Sáu sợi mưa lê thê
Em ngồi đan hết vụng về tuổi hoa…

 

Tiếng ve thi tr con

 

Bất ngờ những giọt sương từ tầng cao xanh ngắt
Rơi rơi vào trưa huyền hoặc,
Tan vào trong tiếng ve
Mùa hè năm xưa… đánh mất!

 

Những cô bé, cậu bé tuổi mười hai, mười ba, buổi trưa trốn ngủ
Sào trúc xôn xao, ngong ngóng tàn cao
Những chú ve kim chưa kịp hiểu vì sao
Nhựa mũ mít dính vào đôi cánh…

 

Có một cậu bé ngồi hứng nắng làm thơ,
Mắt gửi phía sau chùm tóc đuôi gà nhỏng nhảnh
Mỗi chú ve bị bắt, cậu buồn như… bị đánh
Rón rén thả nỗi buồn qua những giấc mơ.

 

Tiếng ve hồn nhiên, tiếng ve giận dỗi
Hoa sao tít mù, cánh sao loay hoay
Kết cọng cỏ. Chợt lòng bối rối
Biết tặng ai trong đám… khóc nhè?

 

Mỗi gốc cây, bắt đầu một ký tự
Những con kiến vàng tìm nhựa mon men
Tiếng ve đỏ những trái trường, ửng vàng trái thị
Lửng lơ treo vào những đôi mắt đen.

 

Chân chợt chạm những vỏ ve mùa “thoát xác”
Áo mười ba khao khát những… mơ màng
Tóc đã xõa bờ vai mùa thiếu nữ
Tiếng ve ngân say nắng hạ vàng.

 

Làm sao gói tiếng ve xưa trẻ
Ngày xa trường. Im lặng tiếng ve
Mấy ngả chia tay, phượng hồng thắp lửa
Ai học trò không mắc nợ mùa ve?

 

– Trn Hoàng Vy

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác giả bài thơ này là nhà thơ Mỹ Dana Gioia trích trong cuốn Rebel Angels: 25 Poets of The New Formalism, nhà xuất bản Story Line Press, 1996. Tôi đặc biệt yêu thích bài thơ.
LỜI PHI LỘ-Tôi được đọc bài thơ này lần đầu tiên khi nó được phổ biến trên báo VĂN, nếu tôi không nhầm, vào những năm 80 của thế kỷ trước. Có điều đáng chú ý cuối bài thơ báo VĂN có ghi rõ Vô Danh, nghĩa là không rõ tác giả. Nhưng tôi tin rằng báo VĂN biết rõ tác giả nhưng không tiện nói ra vì tác giả vào thời khoảng ấy còn ở trong nước. Chỉ cần đọc bài thơ qua một lần, xuyên qua văn phong, ai cũng cảm nhận tác giả của bài thơ này là Thanh Tâm Tuyền.
Em nhìn qua bờ tóc bạc của anh đi / Như nhìn qua khung cửa sổ
Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ
Đen đúa. Sần sùi. Không đáng một xu / Dzụt gốc xoài. Quạ không thèm mổ / Quăng tận ổ. Kiến không thèm bu / Phơi giữa trại tù, cai tù không ngó
Loang loáng / chuông ngân / vong hồn những hạt bụi
Vũ Hán Những ngôi nhà cửa bị đóng đinh những cánh cổng bị bịt lại bằng những then gỗ hình chữ X người nhốt người trong đó không hề nghĩ họ sẽ sống thế nào nếu không còn thuốc nếu không còn thức ăn
Anh ở đâu ra vậy anh yêu / Hình như chúng ta từng gặp nhau
Biêng biếc làm sao chàng mây / vừa nhặt được màu xanh của ký ức
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 (tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý), tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nơi có núi Tản sông Đà. Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, từng giữ chức Ngự sử trong kinh. Mẹ là Lưu Thị Hiền, cũng có sách ghi là đào Nghiêm, vốn là một đào hát, nổi tiếng tài sắc, giỏi văn thơ.