Hôm nay,  

Đọc sách Lê Giang Trần: Con đường tay trái đi về mặt trời

03/08/202221:54:00(Xem: 7273)

 blank

  

Đọc sách Lê Giang Trần:

Con đường tay trái đi về mặt trời

 

Phan Tấn Hải

 

Tác phẩm mới phát hành của Lê Giang Trần là một tuyển tập nhiều bài viết, trong đó gồm 4 thể loại: Tản mạn, Bút ký, Truyện ngắn, Thơ. Trong thể loại nào, anh cũng thành công theo một cách cảm xúc rất riêng, với kiểu rất mực giang hồ chữ nghĩa, nơi nhà thơ Du Tử Lê đã gọi Lê Giang Trần là một “công tử Bạc Liêu bập bùng những hơi thở buồn” – một hình ảnh cho chúng ta hình dung rất mực bập bùng về Lê Giang Trần, thoang thoảng những nỗi buồn của cõi người.

 

Bất kỳ ai cũng có thể nhận thấy: Lê Giang Trần là môt nhà thơ hy hữu nơi cõi này, những cảm xúc trân trọng của Lê Giang Trần với bằng hữu, và với những chúng sanh cõi đời chung quanh anh rất mực là nồng ấm, thương yêu. Khi Lê Giang Trần viết về các bạn văn nghệ, chúng ta nhận ra những kỷ niệm buồn man mác nơi cõi người, khi phải gặp nhau rồi xa nhau. Khi Lê Giang Trần ghi lại một ký ức về một cụ bà ở  Bạc Liêu, chúng ta đọc qua một lần là hình dung được có một cụ bà như dường có một không hai, những phận người tài năng đa dạng đang sống kham nhẫn trong cõi này.

 

Lê Giang Trần nổi bật về thơ, ngay cả khi viết truyện hay viết tản mạn, bút ký, cũng tràn ngập hình ảnh thơ. Nhà thơ Du Tử Lê nhìn suốt một chặng đường trong đời Lê Giang Trần, và gọi nhũng ngày đến với thi ca của anh là bầp bùng những hơi thở buồn. Nơi bài dùng như Lời Tựa cho tuyển tập “Con đường tay trái đi về mặt trời” (CĐTTĐVMT) của Lê Giang Trần, nhà thơ Du Tử Lê giới thiệu qua bài nhan đề “Từ Vương Kim Vân tới Lê Giang Trần: Bập bùng những hơi thở buồn!”, trích:

 

“Với tôi, Lê Giang Trần như một “Công Tử Bạc Liêu” lỡ thời, thất thổ. Giữa khi Trần chưa kịp biểu diễn những đường gươm hoa mỹ của một tay chơi tỉnh lẻ về thủ đô, dưới những ngọn đèn màu Saigon thì, lịch sử sang trang. Đổi đời. Sóng biển Đông quăng, ném Trần ra trại đảo. Từ những chao chát nắng, mưa rát mặt ở hoang đảo, bản năng sinh tồn thiết lập cho Trần bảng chỉ dẫn mới. Bảng chỉ dẫn như một cuộc lột xác cay nghiệt, để sống còn. Những kinh nghiệm quá khứ thủ đắc được từ những năm tháng “tay chơi” bất kể ngày đêm, đã bị thực tế lóc sạch, thả đáy biển sâu. Những mưu sinh thoát hiểm mới, làm thành một thân thế khác cho Trần. Trước khi trại đảo tiễn Trần vào đất liền. Vùng đất mới.

Từ những năm tháng Houston, thủ vai người bảo trì, sửa chữa, quản lý mấy chục căn hộ của một chung cư, cũ kỹ…tới những năm tháng di chuyển về Los Angeles theo tiếng gọi khẩn thiết của người cha, trong vai trò của quản lý một tiệm buôn bán thực phẩm Á đông nhỏ của gia đình… “Công tử Bạc Liêu” nửa đời, nửa đoạn kia, như một chiếc lá nổi, chìm theo dòng sống, trăm dòng, nghìn bến.” (CĐTTĐVMT, trang 11-12)

 

Tuyển tập này của Lê Giang Trần có thể tìm trên Amazon.com, khi bạn gõ chữ không cần dấu: “con duong tay trai di ve mat troi” – nơi đây, sách được giới thiệu, trích:

 

“Trong cái thế giới nhỏ bé, có những trái avocado rụng khô trong đêm. Lê Giang Trần ca cải lương, ca tân nhạc và viết văn nữa. Đời sống như thơ của anh, đơn giản, hiền lành.

“Tự nào giờ, tôi vẫn cho thi ca là tiếng nói đầu tiên và cuối cùng, tinh khôi nhất của một trái tim, tinh ròng không có chỗ những làm dáng màu mè, trí thức. Tinh ròng hay, sần sùi, thô, nháp, là đặc tính đáng ghi nhận nhất của cõi thơ Lê Giang Trần.

“Tự nào giờ, tôi vẫn nghĩ, sân chơi tinh ròng thi ca, chỉ dành riêng cho những tấm lòng chung thủy mở ra với trời đất, với thiên nhiên, với bằng hữu. Kẻ làm thơ không có một tấm lòng thủy chung, thì, căn bản, y chỉ là một tay xài bạc giả. Cái bóng bẩy, hào nhoáng của nghệ thuật chỉ là một lớp sơn che giấu cốt lõi mục, rã.

"Tự nào giờ, tôi vẫn cho những kẻ thiết tha, gắn bó với nơi chốn, với cảnh đời y đã đi qua, chính là kẻ thủy chung ở với ta vậy.

"Lê Giang Trần chính là người ở với kỷ niệm, ở với nơi chốn. Cõi thơ của anh, đầy những cánh chim về núi. Cõi thơ của anh, bay trên những dậm trường khuất lấp, chân mây...

"Và, bạn còn muốn đòi hỏi gì khác hơn, những dậm trường tan nát trong thơ người mang tên Lê Giang Trần này?

"Du Tử Lê

“Tháng 2-1991.”

 

Tuyển tập dày 516 trang. NXB Sống. Tranh bìa: Đinh Trường Chinh. Vẽ minh họa: Phạm Công Thiện. Trong tuyển tập cũng có trích tác phẩm, thơ, họa, ảnh, lời nhạc từ rất nhiều nghệ sĩ, trong đó có: Đnh Trường Chinh, Phan Diên, Mộ Dung, Việt Dzũng, Etcetera, Nguyễn Đại Giang, Gúc, Phan Tấn Hải, Nguyễn Thanh Hiền, Phùng Quang Hòa, Cao Đông Khánh, Ngọc Lan, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Thanh Phương, Trương Thanh Phương, Lê Uyên Phương, Lữ Mộc Sinh, Việt Báo KT, Đinh Quang Anh Thái, Nguyễn Diệu Thắng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Thanh Thu, Nguyễn Văn Toại, Uyên Nguyên Trần Triết, Khánh Trường, Hồng Vân, Nhật Báo Người Việt, Phạm Vũ, và những hình sưu tầm mà không biết tác giả.


blank 

Đúng là, có một điểm nổi bật. Thơ của Lê Giang Trần đầy những dặm trường tan nát. Mời bạn cảm nhận những dặm trường tan nát đó qua vài câu sau của anh:

 

Một đời tôi mưa trôi

một đời hoa lạc lối

bước về con phố tối

trăng lạnh ngập hồn tôi. (Trang 19)

 

Thơ Lê Giang Trần cũng gắn bó với kỷ niệm, với nơi chốn. Có những địa danh nhắc trong thơ anh, chỉ nghe âm vang đã thấy buồn như muốn khóc. Như các dòng thơ sau:

 

…Nhớ mưa nhớ gái nhớ sông

Nhớ Gò Vấp nhớ vũ trường quán ăn

Nhớ tình xưa những cô nương

Những thằng bạn lính, một nàng vợ ngoan

Nhớ Bạc Liêu chợ nhà lồng

Nhớ tô bún mắm, bánh tằm, mì khô

Cầu quây áo dài gió to

Hàng me đại lộ vât vờ lá bay. (Trang 28)

 

Trong bài viết “Nhớ Gánh Hàng Rong” ghi lại những kỷ niệm về Bạc Liêu, nơi nhà thơ Lê Giang Trần chào đời và sống một thời thơ ấu, anh kể về một nhân vật khó quên, trích như sau:

 

“…Dài dòng để nói tới một nhân vật đặc biệt bán ổi muối cam thảo đặt gánh trước cửa tiệm Vương Lợi Hưng ngang chân cầu quay. Tôi gọi bà là bà ý (bà dì). Bà lúc ấy gần sáu mươi, hai vợ chồng người Tàu và đều biết võ nghệ. Gánh xong gánh ổi đặt xuống chỗ bán thường lệ bên dốc Cầu Quay là ông giao vợ bán, chừng bán gần xong thì ông trở lại chờ gánh về. Ngày nào cũng vậy, khoảng mười giờ sáng là gánh ổi có mặt trước cửa tiệm nhà tôi.

Ngày nào bà cũng bán gần như sạch cả hai việm sành to tướng chứa đầy vun những trái ổi xá lị mập mạp, thấm màu nước muối và màu cam thảo nên ửng màu vàng ong óng bên ngoài cái màu xanh muối dưa. Bà tuyển từng trái ổi một nên ít khi khách hàng phải lựa, hoặc chọn trái to hoặc chọn trái nhỏ, ngoài ra không thể chê trái này xấu trái kia đẹp, trái này bị sâu ăn hay có tì có tật, trái nào cũng lành lặn tươi ngon đều như nhau. Thỉnh thoảng bà bán xong còn sót vài trái ổi nhỏ là vì hôm đó người ta ăn ổi lớn nhiều hơn mua ổi nhỏ, vậy thôi.

Tôi còn nhớ, có một tay đạp xích lô lỗ mãng, có vẻ không tin lời đồn đãi về bà nên thường đậu xe nghỉ trước mặt gánh ổi bà rồi nói gần nói xa khiêu khích. Bữa đó có lẽ bà chịu hết nổi cái thằng xích lô chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, tôi đang ngồi cạnh bên bà nhai ổi chấm muối ớt, bà kêu tôi đứng lên ra tay xúc phạm đến thân thể bà, hết kiểu này tới kiểu nọ, kiểu ra tay chân nào cũng bị bà lanh lẹ gọn gàng dùng thế võ ngoạn mục để phản đòn chớp nhoáng và dừng tay lại đúng ngay yếu điểm chết người. Vừa diễn bà vừa nói lớn cho lọt vô lỗ tai thằng xích lô những đòn thế độc địa của bà thì hậu quả ra sao. Mọi người qua lại thấy vậy bu quanh coi bà biểu diễn, mấy đứa nhỏ vỗ tay còn người lớn ánh mắt phục lăn. Từ đó về sau, anh xích lô ăn ổi mỗi ngày và một tiếng thưa má hai tiếng dạ má. Tay anh chị nào gân gân chưa biết tài nghệ bà, xấc xược mà anh xích lô nghe đặng, anh chửi thề nói “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ,” tôi nhớ hoài câu này là vậy.” (Trang 154-155)

 

Đôi khi, thơ Lê Giang Trần làm chúng ta hoảng sợ. Hãy hình dung thế này: một nhà thơ hải ngoại, nghĩ về những người bạn một thời ở Việt Nam, và khởi tâm muốn về thăm:

 

Ừ. Thì đi về Việt Nam

Lên Đơn Dương thăm người bạn rẫy

Xuống Cà Mau thi rượu bác chèo đò… (trang 333)

 

Thế rồi, giữa bài thơ “Trạm người quá bước” đó, nhà thơ Lê Giang Trần nhìn lại đất Cali, nơi anh đang ngồi viết những dòng thơ:

 

Ừ. Tôi đang bùng cháy

Chỉ có bóng đêm nhìn pháo bông rực rỡ

Ừ. Tôi đang hét gầm

Chỉ có núi cao đồng vọng tiếng vang xa

Ử. Tôi đang bật khóc

Nhưng Cali trời chẳng có mưa ngâu (trang 335 – đoạn 3)

 

Thơ Lê Giang Trần buồn như thế. Đúng là trời Cali chẳng có mưa ngâu, nhưng những dòng thơ của chàng chở theo đầy những mưa buồn kỷ niệm. Thế rồi, xuống gần cuối trang, trong cùng bài, chàng viết:

 

Huống hồ chi Việt Nam không về trở lại

Ôm em điếm nhỏ vào lòng cho tôi chút ấm

Khoác vai em ăn mày cho tôi dạo chợ Xuân

Vào rừng Đơn Dương thăm bạn rẫy vườn

Theo sông nhỏ về Cà Mau thăm ông lái

Về làng xưa quỳ lạy mộ ông bà. (trang 335 – cuối đoạn 4)

 

Đó là thế giới của tâm tưởng, của trí nhớ, của mơ mộng, của ước muốn và của những phải chi… Và rất buồn. Đó là những dòng thơ rất buồn.

 

Cũng có điểm rất nổi bật: Lê Giang Trần rất trân trọng với các bạn hữu văn nghệ, gọi các bạn văn là kỳ hoa dị thảo. Trong bài viết nhan đề “Trần Duy Đức và thơ kỳ hoa dị thảo” nhà thơ Lê Giang Trần kể về chàng nhạc sĩ họ Trần:

 

“Trần Duy Đức với tôi, là một quãng đường thật dài không đo bằng mốc cây số mà trải suốt bằng độ thời gian 30 năm của tình bằng hữu.

Trần Duy Đức với tôi, trên độ dài thời gian như thế, 30 năm trong chuỗi thời gian 45 năm ‒ mà người nhạc sĩ này gọi là "45 năm tình ca" − đã cho tôi nhìn ra anh nhiều điều, nhưng nổi bật nhất, cho thấy anh là một nhạc sĩ có nỗi đồng cảm với thi ca; trong sự đồng cảm rung động ấy, người nhạc sĩ từ khi còn là một thanh niên tràn đầy sức sống, anh đã có biệt tài nhận ra những bài thơ như là nhận ra một thứ kỳ hoa dị thảo bất ngờ đập vào mắt một kẻ lãng du trên bước đường phiêu lãng băng qua những cánh đồng làng vun trồng tràn ngập bông hoa, hay những cánh rừng trong độ xuân về trăm hoa đua nở khoe sắc khoe hương, hay trên một ngọn núi hoang vu chợt nhìn thấy một đóa hoa rực rỡ kiêu ngạo lặng lẽ vươn lên nơi khe đá khuất, hay bỗng dưng ven bờ suối róc rách nào đó lúc dừng chân thả hồn bâng quơ mơ mộng chợt trong tầm mắt xuất hiện một loài hoa dại lạ lùng quyến rũ... Và những bông hoa duyên tao ngộ như thế, làm cho tâm hồn của người nhạc sĩ nhìn vào cảm thấy hương sắc ấy biến thành những nốt nhạc bay lên... bay lên...

Ngôn ngữ của thi ca vốn là thứ chỉ để cảm nhận, giống như nếm mới biết được vị, giống như ngửi mới biết được mùi, giống như tình yêu có chảy tan vào huyết quản mới làm cho trái tim rung lên giai điệu chất ngất men tình.... Trần Duy Đức cảm nhận những bài thơ có ngôn ngữ như thế, và biến hóa thứ hương vị, thứ màu sắc, thứ quyến rũ, tất cả những thứ tỏa ra ấy, trở thành âm nhạc. Sự sáng tạo ấy mang một nét rất riêng, rất Trần Duy Đức; giống như một linh mục dùng phép phối ngẫu ghép "nàng giai nhân thi từ" với chàng "tài tử nốt nhạc" trở thành "đôi uyên ương" hạnh phúc miên viễn bên nhau, hòa nhập, hòa điệu, cất lên tiếng hát, cất lên giai điệu, âm nhạc bay lên không gian, quyến rũ gọi mời, thơ mộng thấm đẫm vào tâm hồn những sinh loại đang sống, bầu trời nở rộng, màu nắng lung linh, màu trăng huyền ảo, cây lá xạc xào, bông hoa run rẩy, chim hót sầu vui, cánh bướm chập chờn, con người nghe thả hồn trầm tưởng.

“Người nào yêu thi ca hẳn người đó có yêu "Thơ Tình Du Tử Lê", vì, người thi sĩ này thả từ trong tâm hồn và trái tim của mình bay ra những cánh bướm ngôn ngữ mê hoặc. Khi đọc lên những thi ngữ như thế, giống như mình đang cận kề bên cô gái xinh tươi, hít thở được hơi thở thơm tho của nàng thở ra, hít thở được hơi hướm từ da thịt nàng toát ra mùi hương làm ngây dại tâm hồn mình, khiến cho trái tim nghĩ tưởng đến một sự đê mê ngây ngất, thứ cảm giác chỉ có khi ái ân; hay huyền diệu hơn, diễn tả thứ cảm giác mà những bậc đạo sư cảm nhận trong giây phút tâm thức bừng sáng hoát ngộ lẽ nhiệm mầu nào đó mà không có bất kỳ loại hạnh phúc nào có thể giống như thế.

Có lẽ như thế, mà, rất nhiều "Thơ Tình Du Tử Lê" bỗng hóa thân thành âm nhạc, không chỉ duy nhất riêng nơi một mảnh vườn của một nhạc sĩ lãng mạn, thu hút cả một thế giới âm nhạc trở thành người tình, người yêu. Và, Trần Duy Đức là một trong những người yêu ấy, một người nhạc sĩ yêu "Thơ Tình Du Tử Lê". Và như thế, sự hôn phối đó, giới thiệu đến những ai yêu thi ca - âm nhạc một sắc thái mới của một "nàng trinh nữ thơ" trở thành một "nàng hôn thê của âm nhạc". Và người kết hôn này giới thiệu "tân giai nhân" của chàng giống như một vị hoàng đế đăng quang nàng "ái phi" lên ngôi hoàng hậu.” (Trang 227-230)

 

Vậy đó, Lê Giang Trần sử dụng nhiều hình ảnh để mô tả về nhạc Trần Duy Đức: chàng phù thủy âm nhạc đã phù phép để thơ tình Du Tử Lê hóa thân thành âm nhạc. Văn phong này của Lê Giang Trần rất độc đáo, rất riêng biệt.  

 

Thường khi, chúng ta dễ quên người vắng mặt. Một bạn văn nào đi xa, chúng ta dễ nhớ khi tới 49 ngày, hay 100 ngày, hay dài hơn, là dịp để nhớ tròn một năm tiễn biệt. Nhưng Lê Giang Trần luôn luôn nhớ các bạn văn nghệ với những kỷ niệm ngập tràn hình ảnh và âm thanh. Như khi Lê Giang Trần nhớ về nghệ sĩ Vô Thường, tay đàn guitar độc đáo.

Trong bài viết nhan đề “Tháng Tư nhớ Vô Thường, tiếng đàn guitar bất hủ” nơi trang 281-292, nhân vật Vô Thường đầy những giai thoại được Lê Giang Trần ghi lại, trích:

 

“…Từ sau ngày đó, tất cả các tiệm nào có bán băng nhạc đều thi đua mở nhạc Vô Thường đờn guitar, hành hạ ỏm tỏi con phố Bolsa một thời gian không ngắn; rồi thì không biết bao nhiêu bài viết về tiếng đàn Vô Thường. À, còn cái tên nữa, Võ Thường mà Đông Duy bỏ dấu mờ ảo nên Phạm Công Thiện đọc ra Vô Thường, rồi kêu để luôn Vô Thường cho vô thường một chút. Ông tò mò hạch người Phạm Công Thiện về ý nghĩa hai chữ vô thường. Cao Xuân Huy khi biết tên Võ Văn Thường, giở giọng Bắc phê bình “văn cũng xoàng mà võ cũng xoàng”, lý do chàng họ Cao ức vì bỗng phát giác thằng bạn võ văn xoàng là “thần tượng” của bà vợ  “yêu vấu” của mình cộng thêm cái list dài sọc trong family.

Vô Thường bỗng trở thành hiện tượng, trở thành người bày trò ra mắt băng nhạc. Những buổi ra mắt bán băng nhạc ấy được tổ chức ở nhiều bang và tất cả số tiền thu được, ông gửi đến các em bé mồ côi trong trại tị nạn. Không biết bây giờ, có em bé mồ côi tị nạn nào khi có dịp ghé đến thủ đô tị nạn Little Saigon, tìm đến nấm mộ của người nhạc sĩ có lòng nhân ái này, thắp cho ông một nén hương lòng hay đặt trên ngôi mộ ấy một đóa hoa dại tươi thắm để tỏ tấm tình với người nhạc sĩ vắn số.

Báo Register đến phỏng vấn Vô Thường. Một trang báo với hình ảnh trang trọng dành cho ông. Theo thời gian, ông được đưa vào sách những người nổi danh, ông có tên trong danh mục những nghệ sĩ tài danh của Pháp. Ông là nghệ sĩ nhận được thư khen tặng, thư cảm ơn của những thính giả ngoại quốc, hằng ngàn bức thư gửi đến ông qua đường bưu điện từ khắp thế giới. Những thính giả này sau khi nghe tiếng đàn của ông, gửi đến một lá thư khen ngợi thật cảm động, là niềm vui thỉnh thoảng ông mang ra khoe cùng bạn. Ông cho biết người ngoại quốc đa số đều mua một loạt toàn bộ những CD nhạc ngoại quốc ông đàn. Vài tháng sau khi ông mất, một tối tôi nghe có tiếng người ngoại quốc bên nhà Vô Thường, cặp vợ chồng Bác Sĩ người Phi, mua CD của ông đều đặn, rất ái mộ ông, hay tin ông mất đã ghé đến viếng linh vị ông và mua thêm nhiều CD để dành tặng cho bạn bè họ.” (Trang 283-284)

 

Kể chuyện của người chưa hết, Lê Giang Trần lại kể chuyện của chàng. Mối tình này của Lê Giang Trần rất nhiêu người biết, kể như duyên tiền định, chớ không phải tự nhiên một kiếp này mà gặp. Cô nàng đẹp, nhưng tâm trí không bình thường. Do vậy, bài “Chuyện Tình Điên” được Lê Giang Trần ghi lại, câu chuyện rất dài, đầy những sóng gió, nơi đây chỉ dẫn ra chút ít, để ngậm ngùi phần nào, trích:

 

“…Vài tháng sau, khi cô bị đưa trở vào nhà thương điên, cô viết giấy nhờ người mang đến chỗ tôi làm, nhắn: “Em thèm đồ ăn Việt Nam lắm, anh mua bún tôm thịt nướng cho em nghe”. Vậy là cứ mỗi cuối tuần tôi mang một món ăn Việt vào nhà thương thăm cô. Cô ngồi đối diện tôi ở một bàn nhỏ, nơi có y tá qua lại canh chừng, ăn ngon lành thức ăn mang đến.

Ba tháng sau, cô có vẻ tỉnh táo nhiều. Đến thăm, cô cho biết có người quen hồi trước cùng xóm, bảo lãnh cô về tiểu bang X nên hôm nay sẵn dịp cô từ giã luôn. Mắt cô long lanh nhìn tôi rất tình-cảm-một-hồi, rồi nói nhỏ nhẹ:

“Em thiệt thương anh hết sức, anh tốt bụng với em lắm, nhưng anh không có nhà ở nên em để người ta bảo lãnh em đi. Em không lấy được anh, anh đừng buồn nghe!”

Câu nói thật tỉnh táo. Tôi chúc,

“Em đi mạnh khỏe ha”.

Trên đường về, tôi tự hỏi có phải là chuyện tình điên của nàng không? Chắc cô tỉnh ra, cô thấy mình điên thật, nên từ chối khéo.

Cô bị đưa vào nhà thương điên trở lại, vì một sáng cô múa khỏa thân cho Đường Minh Hoàng coi ở trước cổng Phước Lộc Thọ. Cách đó không lâu, trời đã vào đông, khi gặp cô lang thang ngoài phố, tôi mang cô đến “Bà Chúa Xứ”, xin Kiều Nguyên Tá, là người chủ điện Bà, nếu cô có tới nữa thì cho cô ngủ nhờ, trời lạnh tội nghiệp cô. Cô bình yên được vài tuần, tối ôm sleep-in-bag lên điện Bà nằm ngủ co ro.

Một tối tôi ở lại chơi, bỗng cô “lên vùng” múa ca không nghỉ, Kiều Nguyên Tá chịu hết nổi nạt một tiếng, cô đái trong quần. Tôi phải hy sinh bộ đồ ngủ lạnh của mình, dắt cô vào phòng tắm, cô hồn nhiên như đứa trẻ cởi đồ ra cho tôi lau rửa thay đồ.

Thương thay cho vóc dáng ngọc ngà mang tâm thần điên dại, bị bao kẻ mất lương tri lạm dụng dày vò. Cô điên vì lúc vượt biên mười lăm tuổi bị hải tặc bắt đi, thả về thì cô có bầu. Cô sinh một bé gái xinh xắn (luôn có tấm hình con trong bóp), qua Mỹ cô bị gia đình cha mẹ ruồng bỏ. Khủng hoảng, người hóa dại điên nên con cô bị chính phủ giữ. Lúc tôi gặp, cô hai mươi sáu tuổi, gương mặt đẹp đẽ, vóc dáng thanh tao…” (trang 399-400)

 

Tuyển tập dày 516 trang, trong đó có rất nhiều trang làm độc giả ngậm ngùi với những chuyện cõi này sao buồn lắm thế. Tuyển tập “Con đường tay trái đi về mặt trời” của Lê Giang Trần không chỉ kể chuyện của anh, không chỉ ghi những cảm xúc của anh, nhưng cũng khắc họa những mảng đời văn nghệ sĩ Quận Cam --- một thời rời nước ra đi, và chỉ còn chữ nghĩa để lại cho ngươi đời sau hiểu được tấm lòng.


blank 

Nơi trang bìa cuối, ghi bài thơ lục bát dài 16 dòng của Lê Giang Trần, nơi đây trích đoạn giữa, với 6 câu phác họa một phần chân dung nhà thơ họ Lê:

 

Làm báo, vui chơi, làm thơ

Nhâp đàn bằng hữu những cô độc đời

Tóc dài đo tháng năm rơi

Đọc kinh. Tịnh khẩu. soi tôi. xét mình

Quán ơn nghĩa, quán ái tình

Bị thương sướt mướt say linh lang buồn…

 

Tịnh khẩu? Hình như Lê Giang Trần chưa sẵn sàng tịnh khẩu. Phải chờ cho dứt hết say linh lang buồn đã chớ.
Độc giả có thể email tới [email protected] nếu muốn liên lạc với tác giả.

 

 

 




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong tuần qua, nhà thơ Trịnh Y Thư vừa phát hành một sách mới nhan đề “Căn Phòng Riêng,” dịch từ nguyên bản tiếng Anh, Virginia Woolf, A Room of One’s Own, nxb Harcourt, 1991. Theo lời dịch giả Trịnh Y Thư, ấn bản 2023 của bản dịch để phổ biến ở hải ngoại là bản được sửa chữa và tăng bổ từ hai ấn bản đã in trong các năm 2009 và 2016 tại Việt Nam. Tập tiểu luận văn học này của Virginia Woolf (1882-1941) như dường trải qua gần 100 tuổi, vì sách ấn hành lần đầu là năm 1929, nhưng các vấn đề nêu lên đều rất mới, như vị trí người cầm bút nữ chỉ là bóng mờ trong ngôi làng của các nhà văn, hay yêu cầu của Woolf rằng người sáng tác phải lìa hẳn “cái tôi” khi cầm bút, hay người sáng tác văn học cần có “khối óc lưỡng tính [nam/nữ]” (nghĩa là lìa cá tính, hay lìa ngã thể?) -- nghĩa là tất cả những gì rất mực táo bạo đối với người sáng tác văn học Việt Nam.
Thu hút sự chú ý của công chúng về tính quyết định của thời điểm lịch sử hiện tại, Ahmed giới thiệu một lý thuyết phê bình về giải phóng xã hội dựa trên các phong trào cách mạng hậu Xô Viết đã nổi lên bên lề trật tự xã hội toàn cầu. Sự gia tăng của các phong trào loại trừ xã hội và chính trị ở nhiều nơi trên thế giới, khủng hoảng sinh thái đang diễn ra, phân biệt chủng tộc chống người Da đen và sự cụ thể hóa của sự tuyệt vọng do đại dịch COVID-19 mang lại đòi hỏi một cách tiếp cận mới đối với cuộc cách mạng, mà Ahmed lập luận, phải được bắt nguồn từ kinh nghiệm của những người bị áp bức nhất trong xã hội.
Nói chung "bật khóc" vì nhiều lý do …. Trước khi đề cập chi tiết hơn về bài thơ tôi mạn phép giới thiệu sơ về Lão Thi Sĩ Trần Công. Theo internet thì tác giả người Gò Công, từng là Trung Tá Cảnh sát Quốc Gia Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và hiện định cư tại Hoa Kỳ.
Suốt thời gian gần trăm năm qua, từ ngày xuất bản năm 1929, cuốn Căn phòng riêng của Virginia Woolf vẫn được xem là tập tiểu luận văn học có tầm ảnh hưởng rất lớn bởi tính cách đặt vấn đề của nó. Nó là cuốn sách được nhật báo Le Monde của Pháp quốc xếp hạng thứ 69 trong số 100 cuốn sách hay, giá trị, đáng đọc nhất thế kỷ XX. Kỳ thực, nó là cuốn sách đặt nền móng cho Nữ quyền luận trong hai lĩnh vực tư tưởng và phê bình văn học. Cuốn sách được hình thành dựa trên loạt bài thuyết trình Woolf đọc trước cử tọa toàn phái nữ tại hai trường cao đẳng dành riêng cho phụ nữ, Newham và Girton, thuộc trường đại học danh tiếng Cambridge của Anh quốc, vào năm 1928, xoay quanh chủ đề “Phụ nữ và sáng tác văn học.”
Cuốn tiểu thuyết này mổ xẻ tình bạn mãnh liệt giữa hai cô gái mười ba tuổi, Agnès và Fabienne, ở vùng nông thôn nước Pháp thời hậu chiến. Họ tự tin mình “đủ tuổi để làm mọi thứ”, họ bão hòa sự nhàm chán bằng những kế hoạch càng ngày càng phức tạp. Fabienne bắt đầu đọc những câu chuyện kinh dị cho Agnès, và sau đó thiết kế ấn phẩm của họ dưới tên của Agnès. Agnès được tôn vinh là một đứa trẻ thần đồng và cuộc đời cô bắt đầu một quỹ đạo mới. Câu chuyện mở ra khi Agnès nhìn lại, bây giờ cô đã 27 tuổi và sống ở Pennsylvania, nghe tin Fabienne chết. Những hồi ức của cô ấy về tình bạn và sự phấn đấu của cô với sự nổi tiếng, được kể lại tự nhiên theo giọng điệu thanh tao, được nhấn mạnh bằng những mô tả sắc bén về niềm tin của tuổi vị thành niên.
Quyển thơ có 18 bài trong 50 bài được thầy Tuệ Sỹ viết bằng Hán tự trong thời gian bị bắt giam lần thứ nhất hơn 2 năm (1978-1981)...
Bất ngờ, tôi mới nhận ra rằng GS Nguyễn Bá Chung cũng là một nhà thơ. Bởi vì một thành kiến tôi có từ lâu, một học giả thường không làm thơ. Trước giờ tôi vẫn nghĩ rằng GS Nguyễn Bá Chung là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu, và là người dịch sang tiếng Anh nhiều bài thơ thời Lý, Trần và thời Lê, Nguyễn --- và đó là những gì tôi từng chú ý nhất, khi đọc hai bản Anh dịch của họ Nguyễn: tập “Ly Tran Zen Poems” (nxb Văn Hóa Sài Gòn, 2005, tái bản 6/2007) và “Le Nguyen Zen Poems” (nxb Hội Nhà Văn 6/2019). Lúc đó, tôi không chú tâm về những sách khác do GS Nguyễn Bá Chung (NBC) dịch, như tiểu thuyết, truyện, thơ… Và rồi một bất ngờ, khi tôi khám phá ra Nguyễn Bá Chung cũng là một nhà thơ rất mực lãng đãng Thiền học, thơ mộng tột vời.
Nhân đọc tập thơ Tiểu Khúc của Tôn Nữ Thu Dung, Tương Tri xuất bản.
Chúng ta chỉ ngưng lại một khoảnh khắc để hình dung ra mùa Giáng Sinh và năm Mới sắp tới này ở đất nước Ukraine sẽ như thế nào? Có bao nhiêu cha mẹ mất con, bao nhiêu em bé mất cha mẹ, có bao nhiêu phụ nữ mất chồng. Sẽ không có quà tặng, không có thành phố chăng đèn, không tiếng cười, không hoa, không nến… Vẫn có tiếng súng, tiếng nổ và thật nhiều tiếng khóc của các bà Mẹ, người vợ, người chồng, trẻ em…
Chiến tranh Ukraine đã gây tang tóc và mất mát cho hàng triệu gia đình, đảo lộn thế giới và đời sống của biết bao trẻ em. Chiến tranh giết chết cha, mẹ, bạn bè, láng giềng, nhưng không giết được niềm ước mơ mãnh liệt trong lòng trẻ thơ, nhất là vào mùa Giáng Sinh. Tổ chức “Hope and Homes for Children” một tổ chức vô vụ lợi chuyên giúp trẻ em đã hỏi các em ước gì mùa Giáng Sinh năm nay, và sau đây là những gì các em chia xẻ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.