Hôm nay,  

Không dưng hương lại về không

05/04/202613:36:00(Xem: 247)
blank 

Không dưng hương lại về không... 

– nhân đọc tuyển tập “Đuổi bắt một mùi hương” của Phan Tấn Hải

 

Vũ Hoàng Thư

 

 

Tháng 3 bắt đầu những cơn nóng. Nóng của thời tiết, và nhiệt tăng của thời thế. Chiến tranh nóng hấp Trung Đông nhắc nhở một lần định mệnh vang rền thế kỷ trước trên quê hương dấu yêu. Tháng 3 đang nhường bước cho tháng 4 nghiệt ngả sắp kề, như câu thơ Nguyễn Xuân Thiệp, tháng ba xuống khu rừng. bóng quạ / rung những nhánh cây. màu tàn lửa... Trong bầu khí hâm hấp đó, tôi đọc “Đuổi bắt một mùi hương(*) của Phan Tấn Hải, không hẹn mà tập truyện mang lại một sự thanh thản, dịu mát bất ngờ. Tôi lật và đọc ngay chuyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương” đầu tiên, vì nghĩ có thể đây là đỉnh điểm tâm tình của tác giả. Có thể lắm! Chỉ nói cái tên truyện, tên sách, bắt đầu bằng một cuộc “đuổi bắt”, đã thấy len lỏi mạch ngầm dưới làn da một tính cách lãng mạn khôn hàn!

 

Đuổi bắt tự nó đã là một hành động lãng mạn, nhất là khi đuổi bắt những gì không còn hiện hữu, như đuổi bắt một mùi hương! Mùi hương không có hình thể, không thể nắm giữ, nhưng lại có khả năng đánh thức ký ức mạnh mẽ hơn cả hình ảnh hay âm thanh. Marcel Proust trong À la recherche du temps perdu đã mô tả khoảnh khắc ấy khi chiếc bánh madeleines nhúng vào chén trà làm bừng dậy cả một miền ký ức. Không phải ký ức được “tìm lại” bằng ý chí, mà nó trồi lên, như thể ký ức có đời sống riêng của nó. Chỉ một thoáng hương cũng có thể mở tung cả một thế giới đã ngủ yên về một buổi chiều xa xưa, một bóng người, một mùa đã tắt. Như ai đó, như thân yêu gọi ta trở về.

 

Vì thế, “đuổi bắt” không là hành động hướng ngoại, mà là một chuyển động sâu kín bên trong. Tưởng mình đang đuổi theo một thứ ở phía trước mà thực ra là đang lần theo những rong rêu trầm tích của chính mình. Có lẽ vì vậy mà nó mang tính lãng mạn, vì không thể định hình. Chính sự bất khả nắm bắt ấy tạo nên sức hút mãnh liệt về một phiên bản đã tan vào quá khứ, chỉ còn tồn tại dư âm.

 

Tại sao con người mãi ám ảnh bởi cái không nắm giữ được? Heidegger trong hành trình miệt mài của cơn cuộc bắt bóng ấy đã ngôn rằng con người không chỉ sống trong hiện tại, mà luôn bị kéo giãn giữa đã-làsẽ-là. Chẳng bao giờ ta bằng lòng trọn vẹn “ở đây”. Con người vốn bình sinh cắc cớ mênh mông bụi hồng, luôn lệch hướng khỏi chính mình. Và chính cái sự vụ lệch lạc “người ngồi trên bến nhớ mênh mông (TCS)” ấy đã tạo ra cơn cuộc giằng co, một cuộc đuổi bắt nồng nàn bỏng cháy đại loại “kim tịch hà tịch ?“ miên man không dứt. Mùi hương, ký ức, một bóng người… tất cả đều là những “dấu vết” chưa hoàn toàn biến mất, một cái gì đó luôn vừa có vừa không. Nghe thật ám ảnh làm sao. Có thể gọi đó là niềm khoái cảm của sự thiếu vắng chăng? Một trạng thái mông lung gọi mời trong xa vời khoảng cách.

 

Truyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương” của Phan Tấn Hải như thế này: Cái nắm tay đầu tiên của tác giả ở tuổi 17 với một “cô bé” trong sân chùa Xá Lợi và một mùi hương kỳ bí xuất hiện lần đầu khi tay chạm tay. Thế rồi mùi hương ấy (khứu giác), cái nắm tay (xúc giác) đó mãi theo cùng tác giả cho đến bây giờ, năm sáu chục năm sau. Đâu đó giữa câu chuyện có cuộc hội thoại với thầy Đồng Nguyên, thầy Tịch Chiếu trước khi tác giả vượt biên sang Mỹ. Năm 2006 ở California, tác giả nhận được tin qua email từ người bạn ở Việt Nam báo tin “cô bé” đã qua đời. Câu chuyện không chấm dứt ở đó. Bởi vì mùi hương cứ mãi lãng đãng theo về. Ôi duyên khởi trùng trùng trong pháp giới huyền hoặc này. Có phải sắc tức thị không và cũng không không nốt? Rồi thanh hương vị xúc pháp, thảy đều như vậy? Ừ, diệc phục như thị.

 

Cô bé với đôi mắt đen lánh, mái tóc xõa chấm vai, tà áo trắng gần như là một bóng mờ nhạt ẩn hiện. Cô không phải là đối tượng của tình yêu lãng mạn thông thường, cô là biểu tượng của một cảm thọ, cái khoảnh khắc tâm hồn xao xuyến lúc đầu đời.

 

Thầy Đồng Nguyên và Thầy Tịch Chiếu xuất hiện trong truyện, không giảng giải giáo điều khô khan nhưng dùng hoàn cảnh, như đêm gió rừng, như tiếng chim kêu, như tách trà sứt mẻ, để truyền giao tuệ giác. Đây là phong cách giáo hóa đặc thù Thiền tông. "Ngay khi em đuổi bắt một mùi hương, là ngay khi đó tâm em đã bị mùi hương đó chụp bắt rồi", lời thầy Đồng Nguyên nói. Mùi hương trở thành ẩn dụ cho mọi đối tượng mà tâm bám víu, ký ức, cảm xúc, tình yêu, tiếc nuối. Giáo lý thiền nhắm thẳng vào cốt lõi của sự việc: cả đuổi bắt lẫn chạy trốn đều là bị chụp bắt. Con đường giải thoát không phải là trốn tránh cảm xúc mà là thấy rõ bản chất sinh diệt của nó, vạn pháp như huyễn. Phật giáo không phủ nhận trải nghiệm, chỉ nói lên cái giá của sự dính mắc, và hành giả tự chọn cho chính mình một lối đi.

 

Tin cái chết của cô bé, tác giả thuật lại thật thản nhiên không cần nước mắt hay bi lụy. Nó đến nhẹ nhàng qua một tin nhắn email, giữa những dòng tin bình thường về bạn bè và kinh sách. Chính sự bình thản trong cách kể chuyện làm người đọc phải lặng người. Kể cả tên cô bé, tác giả cũng không còn nhớ, một chi tiết nhỏ nhưng lồng lộng hư vô. Khi nhân vật “tôi” đến chùa cầu siêu, anh quên mất tên cô bé, và ngay cả email từ người bạn thông báo cái chết của cô bé gửi đến anh trước đây, có ghi tên cô cũng biến mất. Tác giả không nhiều lời nhưng dồn dập tính phi lý để sự thật tâm linh được thi vị hóa, cái còn lại không phải là tên, không phải là ký ức cụ thể, mà là mùi hương, cái cảm thọ tinh tế nhất.

 

Chi tiết email biến mất, không còn lưu lại tên cô bé là hình ảnh thơ mộng nhất của mọi sự thơ mộng trên cuộc đời này. Danh tính tan vào hư không, chỉ còn lại mùi hương. Và cuối cùng, ngay cả mùi hương cũng không là thực thể có thể nắm bắt, khi ẩn khi hiện. Nói đến danh tướng mà không gọi tên danh tướng bằng thể điệu trêu chọc, giáng cú shock cuối cùng, để cho email biến mất xuống vực thẳm tồn sinh! Tôi đồ rằng cư sĩ Nguyên Giác cư ngụ trong nhà văn Phan Tấn Hải muốn vạch ra một điểm mấu chốt, đó là hãy buông bỏ danh xưng sắc tướng, những đối tượng đưa dẫn đến ái (tanha), mắt xích trong thập nhị nhân duyên, nguyên nhân của khổ đau. Mục tiêu của hành giả là gì nếu không là buông bỏ? Nhược kiến chư tướng phi tướng, tất kiến Như Lai (Kinh Kim Cang)

 

Phan Tấn Hải dẫn người đọc qua 33 truyện ngắn với một lối kể chuyện thật duyên dáng. Khi nhắc lại những người bạn gái trong quá khứ, chàng luôn luôn “không nhớ rõ” về chi tiết của cô gái, hoặc “nào ai biết” để tránh đưa ra một xác quyết nào về những bóng hồng đó. “Có bao giờ nàng bỏ quên đôi cánh ở một nơi nào đó của trần gian và không thể tìm lại được rồi phải ở mãi với chúng tôi không nhỉ.” Một cách diễn tả khéo léo, kín đáo, tôn sùng nàng như thiên thần mà chẳng gọi tên thiên thần! (Nơi Mọi Người Đều Là Ánh Sáng)

 

Mùi hương không chỉ xuất hiện trong truyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương”, mùi hương đeo đẳng trở về trong một truyện khác, “không có bóng nàng trong đó – dĩ nhiên, nhưng như dường còn một mùi hương…” (Khi Em Đứng Dậy Và Bước Đi). Làm thế nào để ta núm bắt một mùi hương hay màu nắng? Những thứ rất rõ rệt bằng khứu giác, bằng thị giác, lại mơ hồ vô vọng trong hiện hữu. Mơ hồ nhưng lại là những gì thiết yếu nhất của ước mong, của cái đẹp, “Lúc đó, tôi đã thấy rằng có một cái không thấy được, nhưng nó là cái làm cho mọi thứ hiện lên.” (Màu Nắng Rực Sáng). Tác giả rất biệt tài trong khêu gợi những điều không thể gợi khêu, nói những điều tưởng là mông lung mà đưa dẫn về tâm linh sâu kín, sống, chết, tương duyên. Ông không gọi tên mà để cho độc giả tự đào sâu vạn thể của biển dâu qua lời kể chuyện.    

 

Phan Tấn Hải tâm sự như thế này trong Lời Thưa đầu tâp truyện:

Thời thơ ấu, tôi ước mơ sau này sẽ chỉ viết truyện cổ tích...

Đó là nơi cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác, đó là con ngựa bay của Thánh Gióng, là chiếc thảm bay của cổ tích Ba Tư”  và trong truyện Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh:

 Chúng tôi chỉ là những đứa trẻ trên trần gian này.”

 

Con người yêu sự ngây thơ của trẻ con và những câu chuyện cổ tích có hậu không phải là điều ngẫu nhiên. Trước hết, sự ngây thơ của trẻ con gợi lên một trạng thái mà người lớn đã đánh mất. Trẻ nhỏ nhìn thế giới không hoài nghi hay không toan tính, chẳng bị ám ảnh bởi thất bại hay cái chết. Khi người lớn nhìn vào chúng, ta bắt gặp một “phiên bản nguyên sơ” của chính mình, trở lại một thời kỳ mà thế giới còn trong lành vô nhiễm. Nói cách khác, một kiểu nostalgia, cảm xúc hoài niệm giúp con người giảm căng thẳng và tìm lại cảm giác an toàn. Trẻ con trở thành biểu tượng sự sống của cảm giác ấy. Kế đến, cổ tích có hậu đáp ứng một nhu cầu rất căn bản trong niềm tin rằng thế giới có trật tự đạo đức. Trong đời thực, cái tốt không phải lúc nào cũng thắng, người tốt có khi phải chịu thiệt thòi, và mọi thứ thường mơ hồ giữa trắng và đen. Trái lại, cấu trúc truyện cổ tích rất rõ ràng, thiện thắng ác, công lý được thực thi. Điều này gắn với một khái niệm rằng con người có xu hướng tin thế giới “nên” công bằng, dù thực tế không phải lúc nào cũng vậy. “...tôi đã đem truyện cổ tích vào đời thường, để làm cho cuộc đời đẹp hơn. Và đó sẽ là hạnh phúc của người viết và của người đọc.” (Lời Thưa)

 

oOo

 

"Đuổi Bắt Một Mùi Hương" là một tác phẩm hấp dẫn, đem lại cho người đọc một cảm giác tự tại từ một tác giả với nhiều năm hấp thụ thâm sâu giáo lý Phật đà. Nói về tình yêu mà không lãng mạn hóa tình yêu, nói về Phật pháp mà không thuyết giáo, nói về mất mát mà không bi lụy. Sức mạnh của tập truyện nằm ở chỗ tác giả cổ tích hóa chuyện đời thường, mượn mùi hương là một ví dụ, để người đọc nhận ra một điều gì rất riêng tư và đồng thời lại phổ quát cùng lúc. Một tập hợp những cổ tích thơ mộng tưởng chừng đã mất hút trong thời đại kỹ thuật tiên tiến, AI hiện nay.

 

Câu kết của truyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương” trích dẫn tiếng tụng kinh "Sắc bất dị không, không bất dị sắc" vọng ra từ chính điện, không giải thích, không kết luận, chỉ để âm vang lan ra. Như mùi hương. Có thật một cô bé, một mùi hương hiện hữu, hay chỉ là phương tiện để cư sĩ Nguyên Giác nói một thời kinh? Vòng tròn thiền tông lấp lánh khuôn mặt cô bé, và mùi hương theo đuổi không nguôi, bất giác gọi về một cõi Chúng Hương của kinh Duy Ma Cật, nơi Phật Hương Tích dùng mùi hương để giáo hóa chúng sanh mà không cần tiếng nói. Mọi phương tiện, ngôn ngữ hay mùi hương đều diệu dụng trong chuyển hóa để “trâu bùn trong từng khoảnh khắc, và đang học cách để thấy mình là biển (Lời Thưa)”

 

Vũ Hoàng Thư

Tháng 3, 2026

----------------------------

(*) Đuổi Bắt Một Mùi Hương, Tuyển Tập PHAN TẤN HẢI, NXB VĂN HỌC PRESS & VIỆT BÁO FOUNDATION – 2026: https://www.barnesandnoble.com/s/9798260319826    

 

 

 

 



Hiền Như Bụt là tác phẩm biên khảo về Phật Giáo, bút ký pha lẫn văn chương nhưng không phải do một tu sĩ hay một nhà nghiên cứu Phật học sáng tác mà do một trí thức khoa bảng yêu mến và quý trọng Đạo Phật viết ra. Nó là sản phẩm của 20 năm, từ 1992-2012. Hạ Long Bụt Sĩ tên thật là Lưu Văn Vịnh.
Nhân vật trong tiểu thuyết tôi là những khả thể vô thức của chính tôi (Kundera). Bởi cuối cùng là để vượt ra, vượt qua: một cái đường biên mong manh mà mênh mông đó. Ở đó, Bên kia đường biên “bản ngã” của riêng tôi chấm dứt (trang 19). Nghĩa là đạt đến vô ngã / non-self (không phải no-self). Cái đường biên đó do chính tác giả tạo ra cho mình và loay hoay tìm lối thoát, càng tìm lối thoát càng bị quấn chặt. Chỉ vượt ra, vượt qua (Gaté, gaté…paragaté…) đường biên khi có được trí Bát nhã (Prajna) thấy được ngũ uẩn giai Không, mới “độ nhất thiết khổ ách”.
Đây là một tác phẩm lịch sử từng giai đoạn của Quân Lực Việt Nam Công Hòa. Nhà biên soạn sử học Hồ Đắc Huân, đã miệt mài trong bao nhiêu năm, cô đọng, trau chuốt, giao tiếp với nhiều nguồn tin tức khác nhau, cộng với hành trình từ bản thân, là chứng nhân lịch sử; đã cho ra mắt một tác phẩm để đời!
Có Tự ngã không? Đức Phật dạy: Có nghiệp được tạo tác, có quả dị thục được lãnh thọ, nhưng không có người tạo tác, không có người lãnh thọ. Phật giáo không cho có cái gọi là Tự ngã, tiểu ngã, đại ngã, linh hồn, nhưng tin có “Nghiệp mang theo” để “trả quả”. Cái gì mang Nghiệp theo? Thần thức tái sinh, luân hồi?
Cuốn Hồi Ký dày khoảng 500 trang, khổ lớn, với phần biên tập và thiết kế sách của Trịnh Y Thư, phần thiết kế bìa của Nina Hòa Bình Lê, và gồm 7 phần chính, ngoài Lời Ngỏ và Kết Từ. Phần I, tác giả nhớ lại thời còn ở Hà Nội trước năm 1954 với bố mẹ và anh chị; Phần II kể về chuyến di cư đầu đời một thân một mình của cô gái 16 tuổi từ Hà Nội vào Sài Gòn, lập gia đình và những cơ duyên đưa đẩy vào ngành nghệ thuật điện ảnh Miền Nam trước năm 1975; Phần III kể chuyện lưu vong ra hải ngoại trong biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, làm người tị nạn Việt Nam đầu tiên tại Canada, với hai bàn tay trắng làm lại cuộc đời và những phấn đấu gian lao cực khổ để bước vào sân khấu điện ảnh lộng lẫy của Hollywood; Phần IV thuật lại những chuyện vinh quang trong sự nghiệp điện ảnh và những buồn vui của bản thân, gia đình, và những mối giao tình với bạn bè trong cuộc sống tại Hoa Kỳ; Phần V kể chuyện “đứng dậy, đứng thẳng, đi tới” sau những lần vấp ngã để trở thành nhà diễn thuyết khắp thế giới,
“Nước hiện cũng ở quanh tôi, quanh anh chị. Nó ở ngay trang sách này mà ta đang đọc. Ở trong màn hình tôi đang nhìn, trong bàn phím máy computer tôi đang gõ, ở trong cái áo cái quần tôi đang mặc, trong bức tranh trên trên tường…, kể cả trong cái đinh đóng trên đó. Tôi không thấy nó vì tôi ít khi chịu khó nhìn kỹ để thấy nó. Nhưng có điều bây giờ tôi biết rất rõ rằng: không có nước thì cái thằng tôi này cũng không có; không có nước thì cũng không có anh, không có chị ngồi đó mà đọc trang sách này. Cái bàn, cái ghế, cái cây, cái đám mây ngoài kia… cũng không tuốt.” (tr. 158) Không chỉ có vậy đâu mà còn nhiều nữa. Văn Công Tuấn, trong tác phẩm “Chớ Quên Mình Là Nước,” đã dẫn người đọc từ chuyện đất và nước trong đời thường, trong khoa học, trong văn chương tới chuyện đất và nước trong lãnh vực quốc gia dân tộc, từ chuyện đất và nước trong triết học với bản thể và diệu dụng của nước, bước sang chuyện lấy cơ duyên đất và nước để nói đến chuyện thực chứng tâm linh để giác ngộ và giải thoát
Tôi cố ý tìm tòi và trích dẫn nhiều ý kiến của Nguyễn Hiến Lê và cảm nhận về từng tác phẩm Nguyễn Hiến Lê của nhiều tác giả khác. Tôi rất mong được cung cấp càng nhiều thông tin, sự kiện, chi tiết liên quan đến tác phẩm càng tốt, để tiện việc tham khảo và nghiên cứu về Nguyễn Hiến Lê.
Kể từ tập thơ Vườn Dĩ Vãng ấn hành năm 1972 của thời trai trẻ phục vụ trong quân ngũ nơi quê nhà cho đến tác phẩm Hồi Sinh thực hiện năm 2020 nhưng vì trục trặc kỹ thuật, ấn hành năm 2021 nơi xứ người, nhà thơ Trần Văn Sơn đã trải qua cuộc hành trình từ những bài thơ xuất hiện trên trang báo ở Sài Gòn vào giữa thập niên 60 cho đến thời điểm ấn hành tuyển tập nầy với thi ca hơn nửa thế kỷ.
Trong tuyển tập “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” có nhiều bài rất giá trị mà cũng khó tìm, như bài “Lời Giới Thiệu Luận Án Tiến Sĩ Phật Học Đại Học Bihar - Ấn Độ, 1961 Của Tỳ Kheo Thích Minh Châu: So Sánh Kinh Trung A Hàm Chữ Hán và Kinh Trung Bộ Chữ Pali do vị Viện Trưởng, Tân Tòng Lâm Nalanda S. Mookerjee viết vào ngày 23 tháng 3 năm 1964, và Thích Nữ Trí Hải dịch Việt. Hoặc như bài “Huyền Trang Và Công Cuộc Thỉnh Kinh Vô Tiền Khoáng Hậu Của Nhân Loại” của học giả Nguyễn Hiến Lê, và bài “Như Lai Vô Sở Thuyết” của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan.
Khi đọc bài “Bên Bờ Tử Sinh” của nữ văn sĩ Đỗ Dung thuộc Ban Điều Hành diễn đàn Minh Châu Trời Đông, tôi cũng thấy lòng nhẹ nhàng theo, tác giả bị căn bệnh hiểm nghèo bác sĩ nói chỉ sống thêm vài năm nữa, mà nhờ nhiếp tâm thiền định, chẳng những thoát khỏi cây cầu sinh tử mà tác giả còn sống yêu đời và trở thành một nhà văn với nhiều sáng tác đi vào lòng độc giả.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.