Hôm nay,  

Không dưng hương lại về không

05/04/202613:36:00(Xem: 148)
blank 

Không dưng hương lại về không... 

– nhân đọc tuyển tập “Đuổi bắt một mùi hương” của Phan Tấn Hải

 

Vũ Hoàng Thư

 

 

Tháng 3 bắt đầu những cơn nóng. Nóng của thời tiết, và nhiệt tăng của thời thế. Chiến tranh nóng hấp Trung Đông nhắc nhở một lần định mệnh vang rền thế kỷ trước trên quê hương dấu yêu. Tháng 3 đang nhường bước cho tháng 4 nghiệt ngả sắp kề, như câu thơ Nguyễn Xuân Thiệp, tháng ba xuống khu rừng. bóng quạ / rung những nhánh cây. màu tàn lửa... Trong bầu khí hâm hấp đó, tôi đọc “Đuổi bắt một mùi hương(*) của Phan Tấn Hải, không hẹn mà tập truyện mang lại một sự thanh thản, dịu mát bất ngờ. Tôi lật và đọc ngay chuyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương” đầu tiên, vì nghĩ có thể đây là đỉnh điểm tâm tình của tác giả. Có thể lắm! Chỉ nói cái tên truyện, tên sách, bắt đầu bằng một cuộc “đuổi bắt”, đã thấy len lỏi mạch ngầm dưới làn da một tính cách lãng mạn khôn hàn!

 

Đuổi bắt tự nó đã là một hành động lãng mạn, nhất là khi đuổi bắt những gì không còn hiện hữu, như đuổi bắt một mùi hương! Mùi hương không có hình thể, không thể nắm giữ, nhưng lại có khả năng đánh thức ký ức mạnh mẽ hơn cả hình ảnh hay âm thanh. Marcel Proust trong À la recherche du temps perdu đã mô tả khoảnh khắc ấy khi chiếc bánh madeleines nhúng vào chén trà làm bừng dậy cả một miền ký ức. Không phải ký ức được “tìm lại” bằng ý chí, mà nó trồi lên, như thể ký ức có đời sống riêng của nó. Chỉ một thoáng hương cũng có thể mở tung cả một thế giới đã ngủ yên về một buổi chiều xa xưa, một bóng người, một mùa đã tắt. Như ai đó, như thân yêu gọi ta trở về.

 

Vì thế, “đuổi bắt” không là hành động hướng ngoại, mà là một chuyển động sâu kín bên trong. Tưởng mình đang đuổi theo một thứ ở phía trước mà thực ra là đang lần theo những rong rêu trầm tích của chính mình. Có lẽ vì vậy mà nó mang tính lãng mạn, vì không thể định hình. Chính sự bất khả nắm bắt ấy tạo nên sức hút mãnh liệt về một phiên bản đã tan vào quá khứ, chỉ còn tồn tại dư âm.

 

Tại sao con người mãi ám ảnh bởi cái không nắm giữ được? Heidegger trong hành trình miệt mài của cơn cuộc bắt bóng ấy đã ngôn rằng con người không chỉ sống trong hiện tại, mà luôn bị kéo giãn giữa đã-làsẽ-là. Chẳng bao giờ ta bằng lòng trọn vẹn “ở đây”. Con người vốn bình sinh cắc cớ mênh mông bụi hồng, luôn lệch hướng khỏi chính mình. Và chính cái sự vụ lệch lạc “người ngồi trên bến nhớ mênh mông (TCS)” ấy đã tạo ra cơn cuộc giằng co, một cuộc đuổi bắt nồng nàn bỏng cháy đại loại “kim tịch hà tịch ?“ miên man không dứt. Mùi hương, ký ức, một bóng người… tất cả đều là những “dấu vết” chưa hoàn toàn biến mất, một cái gì đó luôn vừa có vừa không. Nghe thật ám ảnh làm sao. Có thể gọi đó là niềm khoái cảm của sự thiếu vắng chăng? Một trạng thái mông lung gọi mời trong xa vời khoảng cách.

 

Truyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương” của Phan Tấn Hải như thế này: Cái nắm tay đầu tiên của tác giả ở tuổi 17 với một “cô bé” trong sân chùa Xá Lợi và một mùi hương kỳ bí xuất hiện lần đầu khi tay chạm tay. Thế rồi mùi hương ấy (khứu giác), cái nắm tay (xúc giác) đó mãi theo cùng tác giả cho đến bây giờ, năm sáu chục năm sau. Đâu đó giữa câu chuyện có cuộc hội thoại với thầy Đồng Nguyên, thầy Tịch Chiếu trước khi tác giả vượt biên sang Mỹ. Năm 2006 ở California, tác giả nhận được tin qua email từ người bạn ở Việt Nam báo tin “cô bé” đã qua đời. Câu chuyện không chấm dứt ở đó. Bởi vì mùi hương cứ mãi lãng đãng theo về. Ôi duyên khởi trùng trùng trong pháp giới huyền hoặc này. Có phải sắc tức thị không và cũng không không nốt? Rồi thanh hương vị xúc pháp, thảy đều như vậy? Ừ, diệc phục như thị.

 

Cô bé với đôi mắt đen lánh, mái tóc xõa chấm vai, tà áo trắng gần như là một bóng mờ nhạt ẩn hiện. Cô không phải là đối tượng của tình yêu lãng mạn thông thường, cô là biểu tượng của một cảm thọ, cái khoảnh khắc tâm hồn xao xuyến lúc đầu đời.

 

Thầy Đồng Nguyên và Thầy Tịch Chiếu xuất hiện trong truyện, không giảng giải giáo điều khô khan nhưng dùng hoàn cảnh, như đêm gió rừng, như tiếng chim kêu, như tách trà sứt mẻ, để truyền giao tuệ giác. Đây là phong cách giáo hóa đặc thù Thiền tông. "Ngay khi em đuổi bắt một mùi hương, là ngay khi đó tâm em đã bị mùi hương đó chụp bắt rồi", lời thầy Đồng Nguyên nói. Mùi hương trở thành ẩn dụ cho mọi đối tượng mà tâm bám víu, ký ức, cảm xúc, tình yêu, tiếc nuối. Giáo lý thiền nhắm thẳng vào cốt lõi của sự việc: cả đuổi bắt lẫn chạy trốn đều là bị chụp bắt. Con đường giải thoát không phải là trốn tránh cảm xúc mà là thấy rõ bản chất sinh diệt của nó, vạn pháp như huyễn. Phật giáo không phủ nhận trải nghiệm, chỉ nói lên cái giá của sự dính mắc, và hành giả tự chọn cho chính mình một lối đi.

 

Tin cái chết của cô bé, tác giả thuật lại thật thản nhiên không cần nước mắt hay bi lụy. Nó đến nhẹ nhàng qua một tin nhắn email, giữa những dòng tin bình thường về bạn bè và kinh sách. Chính sự bình thản trong cách kể chuyện làm người đọc phải lặng người. Kể cả tên cô bé, tác giả cũng không còn nhớ, một chi tiết nhỏ nhưng lồng lộng hư vô. Khi nhân vật “tôi” đến chùa cầu siêu, anh quên mất tên cô bé, và ngay cả email từ người bạn thông báo cái chết của cô bé gửi đến anh trước đây, có ghi tên cô cũng biến mất. Tác giả không nhiều lời nhưng dồn dập tính phi lý để sự thật tâm linh được thi vị hóa, cái còn lại không phải là tên, không phải là ký ức cụ thể, mà là mùi hương, cái cảm thọ tinh tế nhất.

 

Chi tiết email biến mất, không còn lưu lại tên cô bé là hình ảnh thơ mộng nhất của mọi sự thơ mộng trên cuộc đời này. Danh tính tan vào hư không, chỉ còn lại mùi hương. Và cuối cùng, ngay cả mùi hương cũng không là thực thể có thể nắm bắt, khi ẩn khi hiện. Nói đến danh tướng mà không gọi tên danh tướng bằng thể điệu trêu chọc, giáng cú shock cuối cùng, để cho email biến mất xuống vực thẳm tồn sinh! Tôi đồ rằng cư sĩ Nguyên Giác cư ngụ trong nhà văn Phan Tấn Hải muốn vạch ra một điểm mấu chốt, đó là hãy buông bỏ danh xưng sắc tướng, những đối tượng đưa dẫn đến ái (tanha), mắt xích trong thập nhị nhân duyên, nguyên nhân của khổ đau. Mục tiêu của hành giả là gì nếu không là buông bỏ? Nhược kiến chư tướng phi tướng, tất kiến Như Lai (Kinh Kim Cang)

 

Phan Tấn Hải dẫn người đọc qua 33 truyện ngắn với một lối kể chuyện thật duyên dáng. Khi nhắc lại những người bạn gái trong quá khứ, chàng luôn luôn “không nhớ rõ” về chi tiết của cô gái, hoặc “nào ai biết” để tránh đưa ra một xác quyết nào về những bóng hồng đó. “Có bao giờ nàng bỏ quên đôi cánh ở một nơi nào đó của trần gian và không thể tìm lại được rồi phải ở mãi với chúng tôi không nhỉ.” Một cách diễn tả khéo léo, kín đáo, tôn sùng nàng như thiên thần mà chẳng gọi tên thiên thần! (Nơi Mọi Người Đều Là Ánh Sáng)

 

Mùi hương không chỉ xuất hiện trong truyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương”, mùi hương đeo đẳng trở về trong một truyện khác, “không có bóng nàng trong đó – dĩ nhiên, nhưng như dường còn một mùi hương…” (Khi Em Đứng Dậy Và Bước Đi). Làm thế nào để ta núm bắt một mùi hương hay màu nắng? Những thứ rất rõ rệt bằng khứu giác, bằng thị giác, lại mơ hồ vô vọng trong hiện hữu. Mơ hồ nhưng lại là những gì thiết yếu nhất của ước mong, của cái đẹp, “Lúc đó, tôi đã thấy rằng có một cái không thấy được, nhưng nó là cái làm cho mọi thứ hiện lên.” (Màu Nắng Rực Sáng). Tác giả rất biệt tài trong khêu gợi những điều không thể gợi khêu, nói những điều tưởng là mông lung mà đưa dẫn về tâm linh sâu kín, sống, chết, tương duyên. Ông không gọi tên mà để cho độc giả tự đào sâu vạn thể của biển dâu qua lời kể chuyện.    

 

Phan Tấn Hải tâm sự như thế này trong Lời Thưa đầu tâp truyện:

Thời thơ ấu, tôi ước mơ sau này sẽ chỉ viết truyện cổ tích...

Đó là nơi cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác, đó là con ngựa bay của Thánh Gióng, là chiếc thảm bay của cổ tích Ba Tư”  và trong truyện Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh:

 Chúng tôi chỉ là những đứa trẻ trên trần gian này.”

 

Con người yêu sự ngây thơ của trẻ con và những câu chuyện cổ tích có hậu không phải là điều ngẫu nhiên. Trước hết, sự ngây thơ của trẻ con gợi lên một trạng thái mà người lớn đã đánh mất. Trẻ nhỏ nhìn thế giới không hoài nghi hay không toan tính, chẳng bị ám ảnh bởi thất bại hay cái chết. Khi người lớn nhìn vào chúng, ta bắt gặp một “phiên bản nguyên sơ” của chính mình, trở lại một thời kỳ mà thế giới còn trong lành vô nhiễm. Nói cách khác, một kiểu nostalgia, cảm xúc hoài niệm giúp con người giảm căng thẳng và tìm lại cảm giác an toàn. Trẻ con trở thành biểu tượng sự sống của cảm giác ấy. Kế đến, cổ tích có hậu đáp ứng một nhu cầu rất căn bản trong niềm tin rằng thế giới có trật tự đạo đức. Trong đời thực, cái tốt không phải lúc nào cũng thắng, người tốt có khi phải chịu thiệt thòi, và mọi thứ thường mơ hồ giữa trắng và đen. Trái lại, cấu trúc truyện cổ tích rất rõ ràng, thiện thắng ác, công lý được thực thi. Điều này gắn với một khái niệm rằng con người có xu hướng tin thế giới “nên” công bằng, dù thực tế không phải lúc nào cũng vậy. “...tôi đã đem truyện cổ tích vào đời thường, để làm cho cuộc đời đẹp hơn. Và đó sẽ là hạnh phúc của người viết và của người đọc.” (Lời Thưa)

 

oOo

 

"Đuổi Bắt Một Mùi Hương" là một tác phẩm hấp dẫn, đem lại cho người đọc một cảm giác tự tại từ một tác giả với nhiều năm hấp thụ thâm sâu giáo lý Phật đà. Nói về tình yêu mà không lãng mạn hóa tình yêu, nói về Phật pháp mà không thuyết giáo, nói về mất mát mà không bi lụy. Sức mạnh của tập truyện nằm ở chỗ tác giả cổ tích hóa chuyện đời thường, mượn mùi hương là một ví dụ, để người đọc nhận ra một điều gì rất riêng tư và đồng thời lại phổ quát cùng lúc. Một tập hợp những cổ tích thơ mộng tưởng chừng đã mất hút trong thời đại kỹ thuật tiên tiến, AI hiện nay.

 

Câu kết của truyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương” trích dẫn tiếng tụng kinh "Sắc bất dị không, không bất dị sắc" vọng ra từ chính điện, không giải thích, không kết luận, chỉ để âm vang lan ra. Như mùi hương. Có thật một cô bé, một mùi hương hiện hữu, hay chỉ là phương tiện để cư sĩ Nguyên Giác nói một thời kinh? Vòng tròn thiền tông lấp lánh khuôn mặt cô bé, và mùi hương theo đuổi không nguôi, bất giác gọi về một cõi Chúng Hương của kinh Duy Ma Cật, nơi Phật Hương Tích dùng mùi hương để giáo hóa chúng sanh mà không cần tiếng nói. Mọi phương tiện, ngôn ngữ hay mùi hương đều diệu dụng trong chuyển hóa để “trâu bùn trong từng khoảnh khắc, và đang học cách để thấy mình là biển (Lời Thưa)”

 

Vũ Hoàng Thư

Tháng 3, 2026

----------------------------

(*) Đuổi Bắt Một Mùi Hương, Tuyển Tập PHAN TẤN HẢI, NXB VĂN HỌC PRESS & VIỆT BÁO FOUNDATION – 2026: https://www.barnesandnoble.com/s/9798260319826    

 

 

 

 



Đọc Trịnh Y Thư là đọc một nghệ thuật viết tiểu thuyết vừa siêu hình vừa hiện thực. Nó thực thực hư hư đầy bất ngờ ở những bước ngoặt tình tiết. Độc giả thoạt thấy câu chuyện là như vầy, nhưng đoạn sau nó lại mở ra một cảnh mới, nhân vật cũ mà cảnh thì khác. Lối sắp xếp câu chuyện, dàn cảnh như trong phim trường. Tác giả dẫn dắt khán giả như đang xem một cuốn phim mà nhà đạo diễn đổi cảnh quay, đổi đề tài, đổi tâm tính mà vẫn luôn giữ khán giả ở lại với nhân vật của truyện, của con người Việt Nam trong suốt ba cuộc bể dâu...
“ VÀ EM, LỄ KHẤN DÒNG” ( VE,LKD) là thi phẩm thứ 24 của nhà thơ Lê Đình Bảng, sau 23 tác phẩm đã xuất bản gồm các sách Giảng văn, Giáo trình sách giáo khoa, Thơ, Văn, Bút ký... xuất bản từ năm 1962 ở Sài Gòn và hải ngoại cho đến nay. Sách dày 110 trang gồm 63 bài thơ và lời giới thiệu của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc, do nhà Xuất bản Tuổi Hoa Publishing, Hoa Kỳ ấn hành tháng 8 năm 2024, với tranh bìa của họa sĩ Nguyễn Hà và ký họa chân dung tác giả của họa sĩ Chóe.
Hiếm có một tiểu thuyết như Đường về thủy phủ của Trịnh Y Thư. Không phải là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, nhưng lại làm người đọc phải bâng khuâng nghĩ về những chặng đường đã trải qua của dân tộc. Không phải là một tiểu thuyết diễm tình, nhưng lòng độc giả sẽ chùng xuống khi khép trang sách lại và ngậm ngùi cho những mối tình tan vỡ. Bạn có thể đọc xong, tuần sau đọc lại, vẫn còn thấy có những gì như cần đọc nữa. Chữ của Trịnh Y Thư như dường không cũ tí nào, vì nó luôn luôn gợi tới những gì sâu thẳm trong tim mỗi người, những ước mơ về một mối tình rất mực kỳ ngộ, rất mực dị thường.
“Ở Phía Đông Âm Phủ” là một trong hai truyện tạo thành tập truyện có cùng tựa đề “Ở Phía Đông Âm Phủ” của nhà văn Nguyễn Viện. Sách dày 184 trang do Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2024. Ở âm phủ, dĩ nhiên, để bị trừng phạt và đền tội, nếu vậy, ngụ ý của tác giả là tội gì, đối với các nhân vật trong truyện, những lãnh tụ có thật đưa vào hư cấu, mang máu lịch sử, tạo ra những khúc quanh lớn cho dân tộc, chôn hàng hà sa số xương thịt của người dân, dù có ý định tốt đẹp? Đối với lãnh đạo, lý tưởng và hành động là hai bạn đồng hành, nếu họ yêu nhau, chuyện tốt đẹp sẽ xảy ra; nếu họ phản bội nhau, chuyện xấu xa sẽ xuất hiện sau mặt nạ son phấn của tuyên truyền.
Sách mới "Ở PHÍA ĐÔNG ÂM PHỦ" của Nguyễn Viện, do NXB Tiếng Quê Hương (Mỹ) ấn hành, 2024. Gồm 2 truyện kịch: VÀ, HẮN ĐÃ ĐẾN & Ở PHÍA ĐÔNG ÂM PHỦ. Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng nhận định: “Ở phía đông âm phủ” độc đáo ở chỗ tác giả không miêu tả trực tiếp nhân vật, mà để cho họ nói năng như trên sân khấu, như trong một vở kịch. Hình thức tiểu thuyết - kịch rất hiếm trong văn học Việt Nam… Những quan sát của anh sắc bén, và trong một ngôn ngữ đẹp, giản dị, tinh tế, dí dỏm, tôi thiết nghĩ anh đã thành công trong việc đánh thức ý thức lịch sử và xúc cảm cá nhân nơi người đọc. Nhà nghiên cứu lý luận Ngu Yên đúc kết: Trên con đường văn chương Việt, Nguyễn Viện trở thành một trong số ít nhà văn phiêu lưu, dọ dẫm vào miền văn học lạ lẫm.
Kề từ khi bệnh tật tận tình thăm hỏi, Khánh Trường đã cho ra đời: Truyện ngắn Khánh Trường (2016), Chuyện Bao Đồng (tạp bút, 2018) và các tiểu thuyết: Tịch Dương (2019), Dấu Khói Tàn Tro (2020), Bãi Sậy Chân Cầu (2020), Có Kẻ Cuồng Điên Khóc (2020), Xuyên Giấc Chiêm Bao (2021), Đừng Theo Dông Bão (2021). Nắng Qua Đèo (2021), Năm Tháng Buồn Thiu (2023), Cùng Nhau Đất Trời (2024) và cuối cùng là tập Thơ Khánh Trường (2024). Số tác phẩm đồ sộ này, ít ai, kể cả những tác giả sung sức nhất, làm nổi. Đúng là…kỳ vĩ! Cuốn “Cùng Nhau Đất Trời” này có chút khác với các cuốn trước vì tác giả ghi ngay ngoài bìa sách là “du ký tiểu thuyết”. Chuyện mới à! Mới nhưng truyện của Khánh Trường chằng bao giờ thoát ra khỏi tình. “Cùng Nhau Đất Trời” cũng vậy, đây là một truyện tình. Nhân vật chính không còn trẻ, đã 38 tuổi, chưa chồng con. Ông bố sốt ruột: “Cô tưởng cô còn trẻ lắm sao? Kén cá chọn canh mãi, mai mốt thành gái già, hối không kịp”.
Nhận được cuốn tiểu thuyết Đường về thủy phủ của nhà văn Trinh Y Thư, nghiền ngẫm đọc mấy hôm và suy nghĩ viết đôi lời cảm nhận cho tác phẩm của ông...
Tôi đã đọc bản thảo “Dòng Đời” khá là chậm. Đôi khi tôi đọc lại môt số đoạn, một số trang. Khi đọc lại toàn văn bản thảo lần thứ nhì, tôi lấy giấy ra ghi chú về các nhân vật, các mốc thời gian, những chuyển biến khi các nhân vật dời đổi từ bên dòng sông này qua thị trấn miền núi kia. Tất cả như một cuốn phim về một quê nhà đang tìm hướng đi trong thời kỳ hậu thực dân Pháp, nơi lối rẽ của tranh chấp để con sông trở thành đôi bờ và rồi người lái đò (trong tiểu thuyết này là người có tên là ông Ba Đò) trở thành người hai mặt, bị buộc cung cấp tin cho cả hai lực lượng thuộc hai ý thức hệ khác nhau.
Ngôn Ngữ đặc biệt về “tác giả tác phẩm”, cuốn này hân hạnh được giới thiệu đến quý bạn đọc, một cây bút tài danh đã viết và thành công trong hầu hết trong nhiều bộ môn văn học nghệ thuật qua bốn thập niên. Tác giả đó là nhà văn Trịnh Y Thư. Ông tên thật Trịnh Ngọc Minh, sinh ngày 11 tháng 2 năm 1952 tại Hà Nội, trưởng thành tại Sài Gòn, du học và hành nghề điện tử viễn thông tại Hoa Kỳ cho đến khi hưu trí vào năm 2018. Như đã thượng dẫn, Trịnh Y Thư là một người đa tài, chúng tôi xin giới thiệu đại khái về từng bộ môn ông đã sinh hoạt. Trong bộ môn văn, ông đã viết và phổ biến rộng qua sách in từ truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện dịch, khảo cứu, nhận định văn học, tùy bút, tạp bút, tạp luận. Với bộ môn thi ca, ông có một số ít bài theo phong cách vần điệu nhưng không cùn mòn. Chúng tôi nghĩ ông rất hứng thú và chuyên về trường ca, hoặc những bài viết có số lượng câu không quá ngắn hoặc quá dài, và ông cũng sử dụng cả lối thơ Hokku với chỉ 3 câu cho từng khổ.
Trong số truyện ngắn của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” trong tập truyện Gìn Vàng Giữ Ngọc có lẽ là tác phẩm được độc giả nhắc đến nhiều nhất. Dựa trên câu chuyện cơ cực có thật của chính gia đình mình trong thời toàn quốc kháng chiến chống Pháp, Doãn Quốc Sỹ đã kể lại với một cách nhìn nhân bản, kết thúc với đoạn văn được những người hâm mộ trích lại nhiều nhất: “…Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn; ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành…”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.