Hôm nay,  

Song Ngữ: Vô Tâm Là Đạo: Kinh Bahiya

10/12/202409:28:00(Xem: 8120)
VÔ TÂM LÀ ĐẠO: KINH BAHIYA

Thiền Tông dạy rằng người nào sống với Vô tâm là giải thoát. Trần Nhân Tông, vị Thiền sư nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 13, từng viết rằng khi gặp cảnh, giữ được vô tâm, thì không cần hỏi tới Thiền nữa. Đức Phật trước đó đã dạy pháp Vô tâm trong Kinh Phật Tự Thuyết Ud 1.10. Bài này sẽ viết theo nhiều bản Anh dịch trên Sutta Central.

Một đạo sĩ tên là Bahiya cư trú ở thị trấn Supparaka. Bahiya được cư dân tôn kính, cúng dường y phụ, nhà ở và nhiều thứ. Bahiya tự tin rằng đã chứng quả A la hán, hoặc sắp thành A la hán. Một vị cõi trời, kiếp trước từng là người thân của Bahiya, muốn điều tốt lành cho Bahiya, nên hiện ra, nói với Bahiya rằng Bahiya chưa phải là A la hán, và cũng chưa tu đúng con đường để trở thành A la hán.

Bahiya nói, vậy thì ai đang là A la hán, hoặc đã bước vào con đường trở thành một vị A-la-hán.

Vị cõi trời nói rằng Đức Phật, đang nơi thành Xá Vệ ở phía Bắc, là một vị A la hán và đang dạy pháp để trở thành một bậc A la hán.

Bahiya rời thị trấn Supparaka, đi khẩn cấp tới thành Xá Vệ, vào vườn Cấp Cô Độc, gặp một số nhà sư đang thiền hành ngoài trời. Bahiya hỏi, xin gặp Đức Phật, và được cho biết rằng Đức Phật đang đi khất thực.

Bahiya vào thành Xá Vệ, thấy Đức Phật đang đi khất thực, vẻ ngoài thanh thản, tĩnh lặng. Bahiya tới gần, quỳ lạy xuống đất, đầu chạm chân Đức Phật và xin được học Pháp.

Đức Phật trả lời Bahiya rằng chưa phải lúc, vì Phật đang vào nhà dân để khất thực.

Bahiya nói rằng vô thường nhanh chóng, chưa biết thọ mạng còn sống bao lâu, nền cần học Pháp khẩn cấp.

Lần thứ nhì, Đức Phật trả lời Bahiya rằng chưa phải lúc, vì Phật đang vào nhà dân để khất thực.

Lần thứ ba, Bahiya nói rằng chưa biết thọ mạng còn sống bao lâu, nền cần học Pháp khẩn cấp.

Đức Phật trả lời Bahiya, vậy thì phải tự rèn luyện như sau:

Này Bahiya, trong cái được thấy chỉ có cái được thấy, trong cái được nghe chỉ có cái được nghe, trong cái được cảm thọ chỉ có cái được cảm thọ, trong cái được thức tri chỉ có cái được thức tri. Do đó, Bahiya, ông sẽ không ở với cái đó; và vì, Bahiya, ông sẽ không ở với cái đó, do đó, Bahiya, ông sẽ không ở trong cái đó; và vì, Bahiya, ông sẽ không ở trong cái đó, do đó, Bahiya, ông sẽ không bị dính mắc ở nơi đây hay ở kiếp sau, hay ở giữa hai cái đó. Chỉ như thế là chấm dứt đau khổ.
 
Khi nghe lời dạy ngắn gọn này, Bahiya lập tức giải thoát khỏi các lậu hoặc bằng cách không dính mắc. Không lâu sau khi Đức Phật rời đi, một con bò con đã tông vào Bahiya, và giết chết Bahiya.
 
Khi Đức Phật khất thực xong, quay lại, thấy Bahiya đã chết. Đức Phật yêu cầu các nhà sư đặt xác Bahiya lên chết, đốt và dựng tượng đài, vì đó là bạn đồng tu của các sư.
 
Các nhà sư làm xong, hỏi Đức Phật rằng đời sau của Bahiya ở đâu, là gì. Đức Phật đáp rằng Bahiya đã thực hành đúng Pháp và đã vào Niết bàn tối hậu.
 
Sau đó, Đức Phật đọc bài kệ:
Nơi nào nước, đất, lửa và gió không có chỗ đứng,
Nơi nào các vì sao không chiếu sáng, và mặt trời không có ánh sáng,
Nơi nào mặt trăng không tỏa sáng, và bóng tối không thể tìm thấy,
Khi một người tự mình biết điều này – một người thánh thiện có trí tuệ thực sự,
Khi đó, người ấy được giải thoát khỏi cả hình tướng và vô tướng, xa lìa cả khoái lạc và đau khổ.
 
Video dài 4:24 phút:

https://youtu.be/lf-o7TTfmRY
   
.... o ....
 
NO-MIND IS THE WAY: BAHIYA SUTTA

Zen teaches that those who live with No-mind are liberated. Tran Nhan Tong, a renowned Vietnamese Zen master from the 13th century, once wrote that when encountering any phenomenon, if one can maintain No-mind, there is no need to inquire further about Zen. The Buddha previously taught the Dharma of No-mind in the Udana Sutra 1.10. This article will draw upon various English translations available on Sutta Central.


A hermit named Bahiya lived in the town of Supparaka. The townspeople revered Bahiya, offering him robes, a house, and many other gifts. Bahiya was confident that he had attained Arahantship or was on the path to becoming an Arahant. However, a deva, who had been a relative of Bahiya in a previous life, appeared to him and conveyed that he was neither an Arahant nor on the correct path to achieving Arahantship.
 
Bahiya stated that he was an Arahant or had embarked on the path to becoming one. The deva responded that the Buddha, who resided in the northern city of Savatthi, was indeed an Arahant and was teaching the Dhamma to help his disciples attain Arahantship.
 
Bahiya left the town of Supparaka, hurried to Savatthi, entered Anathapindika's garden, and encountered some monks engaged in walking meditation outdoors. Bahiya requested to see the Buddha but was informed that the Buddha was out on his alms round.
 
Bahiya entered Savatthi and saw the Buddha on his alms round, appearing serene and calm. Bahiya approached, prostrated himself on the ground, touched his head to the Buddha's feet, and requested to learn the Dhamma.
 
The Buddha replied to Bahiya that it was not yet the right time, as he was going into people's homes to beg for alms.
 
Bahiya stated that impermanence is swift, and since he did not know how long he would live, he felt an urgent need to learn the Dhamma.

The second time, the Buddha responded to Bahiya that it was not yet the appropriate moment, as he was going to people's homes to beg for alms.

The third time, Bahiya expressed that he did not know how long he would live, so he urgently needed to learn the Dhamma.

The Buddha advised Bahiya to train himself in the following manner.
 
"And since for you, Bahiya, in what is seen there will be only what is seen, in what is heard there will be only what is heard, in what is sensed there will be only what is sensed, in what is cognized there will be only what is cognized, therefore, Bahiya, you will not be with that; and since, Bahiya, you will not be with that, therefore, Bahiya, you will not be in that; and since, Bahiya, you will not be in that, therefore, Bahiya, you will not be here or hereafter or in between the two—just this is the end of suffering."
 
Upon hearing this brief teaching, Bahiya was immediately liberated from his defilements through non-attachment. Shortly after the Buddha departed, a young cow struck Bahiya, resulting in his death.
 
When the Buddha returned from his alms round, he discovered that Bahiya had passed away. The Buddha instructed the monks to place Bahiya's body on the ground, burn it, and erect a monument in his honor, as he was their fellow monk.
 
When the monks had finished, they asked the Buddha about Bahiya's next life and its destination. The Buddha replied that Bahiya had practiced the Dhamma correctly and had attained final Nirvana.
 
Then the Buddha recited the following verse:
Where water, earth, fire, and wind have no place,
Where the stars do not shine and the sun provides no light,
Where the moon does not shine and darkness cannot be found,
When one experiences this firsthand—a holy person possessing true wisdom—
Then one is liberated from both form and formlessness, transcending both pleasure and pain.
 
Video, 4:44 minutes long:

https://youtu.be/p4x9fLmm1VU

Reference:
https://suttacentral.net/ud1.10/en/sujato
https://suttacentral.net/ud1.10/en/anandajoti



.... o ....

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
17/11/202512:49:00
J361. Vannaroha Jātaka -- Người trí tuệ sống chung với nhau trong hòa bình. Tóm tắt: Một cư sĩ phục vụ hai vị đại đệ tử cố gắng xúi giục họ chống lại nhau, nhưng thất bại. Đức Phật sau đó kể một câu chuyện về một con chó rừng cố gắng phá vỡ tình bạn giữa một con sư tử và một con cọp, nhưng đã bị đuổi đi khi chúng phát hiện ra âm mưu của nó.
17/11/202511:43:00
Ca khúc mở đầu “Đường vào tình yêu, có trăm lần vui, có vạn lần sầu…” đã thể hiện phần nào tâm trạng của mối “tình buồn muôn thuở” giữa đôi trai gái trong trại tù – nàng Stacy và chàng Rick – mỗi người bị nhốt trong một xà lim riêng biệt, cùng phạm tội buôn bán ma túy, chờ ngày ra tòa.
13/11/202508:07:00
J351. Manikundala Jātaka -- Mọi thứ đều thay đổi - niềm vui chuyển thành nỗi buồn, và cuộc sống luôn thay đổi và mất mát. Tóm tắt: Một cận thần vô tội bị giam nhưng sau đó được nhà vua thả ra và tôn vinh. Đức Phật kể lại câu chuyện về một người đàn ông có liên quan đến cung điện Benares, người bị lưu đày và sau đó thuyết phục một vị vua nước ngoài tấn công đất nước cũ của mình. Thay vì gây ra cái chết của người khác, vua Benares đã chọn đầu hàng một cách tự nguyện. Cảm kích trước đức hạnh của ông, vị vua chiến thắng đã nhượng bộ và trả tự do cho ông.
11/11/202504:21:00
J341. Kandari Jātaka -- Không chung thủy sẽ dẫn đến nhiều hậu quả. Tóm tắt: Hoàng hậu Kinnarā, vợ của vua Kaṇḍari xứ Benares, ngoại tình với một người đàn ông tàn tật sống trên cây. Khi bị phát hiện, nhà vua muốn giết chết bà, nhưng vị sư của ông, Pañcālacaṇḍa, giải thích rằng hành vi này đơn giản là bản chất của phụ nữ, và lưu ý rằng ngay cả những phụ nữ trẻ trên thế gian cũng hành động tương tự.
05/11/202521:02:00
J331. Kokalika Jātaka -- Vị Vua lắm lời và chú chim cu gáy (cuckoo) con Tóm tắt: Nhà sư Kokālika trách mắng hai vị đại đệ tử, và vì lời nói bất xứng mà bị đọa vào địa ngục. Đức Phật kể câu chuyện về một con chim cu được một con quạ nuôi dưỡng nhưng lại bắt đầu hót khi còn trong tổ, dẫn đến cái chết của nó và bị ném xuống đất.
01/11/202519:10:00
J321. Kutidusaka Jātaka -- Vị Sa-di Trẻ Đốt Lều Của Trưởng Lão Tóm tắt: Một trong những sa di của Trưởng lão Mahākassapa nổi giận với thầy mình, cư xử tệ bạc, và cuối cùng đốt cháy túp lều của thầy trước khi rơi vào địa ngục. Đức Phật kể câu chuyện về một con khỉ, khi bị khiển trách vì những thiếu sót của mình, đã phá hỏng tổ chim.
28/10/202510:32:00
J311. Pucimanda Jātaka -- Câu chuyện về Thần Cây Nimb Tóm tắt: Khi một tên trộm nằm trên hiên nhà của Trưởng lão Moggallana (Mục Kiền Liên), ngài liền đuổi hắn đi khi những kẻ truy đuổi đến. Đức Phật kể một câu chuyện về việc thần cây Nimb, đã đuổi một tên trộm đi, vì sợ rằng cành cây sẽ bị chặt để đâm chết tên trộm, và đoạn hội thoại sau đó.
25/10/202507:01:00
J301. Cullakalinga Jātaka -- Bốn ni sư khổ hạnh Tóm tắt: Bốn nữ tu khổ hạnh đạo Kỳ Na đạt được chiến thắng tranh luận vang dội khắp nơi cho đến khi bị Trưởng lão Xá Lợi Phất đánh bại. Sau đó, họ quy y Tam Bảo và xin xuất gia. Đức Phật kể một câu chuyện về bốn cô gái trở thành nguyên nhân gây ra chiến tranh. Họ được đưa vào hậu cung của một vị vua đối địch, khiến vua cha phải chuẩn bị chiến đấu. Tuy nhiên, sau khi nghe Sakka nói rằng mình sẽ chiến thắng, ông đã thể hiện lòng dũng cảm bất chấp việc bị đối thủ đánh bại. Cuối cùng, ông đã đưa của hồi môn cho các con gái mình.
17/10/202511:34:00
J281. Abbhantara Jātaka -- Món Cúng Dường Nước Xoài Ép Tóm tắt: Mẹ của Rahula (La Hầu La) ngã bệnh sau khi xuất gia. Ngài La Hầu La hỏi nên làm gì, và bà xin nước ép xoài. Trưởng lão Sāriputta (Xá Lợi Phất) liền mang nước ép đến, và bà đã khỏi bệnh. Đức Phật kể một câu chuyện về một hoàng hậu xưa kia muốn có một quả "xoài giữa" và một con vẹt trung thành đã tìm được một quả cho bà.
15/10/202510:57:00
J271. Udapana-Dusaka Jātaka -- Chó rừng và cái giếng linh thiêng Tóm tắt: Một con chó rừng làm bẩn giếng nước nó uống và bị các sa di đuổi đi. Đức Phật kể lại một câu chuyện tương tự đã xảy ra trong một kiếp trước và Ngài đã khiển trách con chó rừng khi nó thú nhận rằng tổ tiên của nó đã từng hành xử như vậy.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.