Hôm nay,  

Ngày Này…

05/05/201200:00:00(Xem: 19281)
Ngày này …

Chưa tới “ngày này”, tức ngày 30/04 – gọi “ngày này” vì người Việt nam không thể quên được – mà đồng bào ở Miền Trung ùn ùn bỏ chạy vào Sài gòn tỵ nạn. Tin tức mất đất dồn dập đưa tới. Có nhiều nguồn tin nói rỏ mất đất nhưng chưa thấy một tên VC lớn, VC con nào tới dành đất, chiếm đất. Tức chính mình bỏ đất, bỏ nhà của mình để chạy trước lánh nạn. Mấy ngày sau, VC mới tới chiếm lấy đất trống, đất bỏ hoang không chủ. Như kẻ cướp vào cái nhà cửa mở sẳn!

Lịch sử mất nước tái diển. Xin nhắc sơ lược để nhớ lại hoàn cảnh VC Hà nội chiếm Miền nam ngày 30/04.

Ai cũng hiểu rõ Hồ Chí Minh không phải là một chánh khách, mà thật sự là một cán bộ cộng sản chỉ điểm của Đệ tam Quốc tế. Đồng thời ông ta cũng là một đảng viên đảng Cộng sản Tàu (Một đảng, đã chịu không nỗi rồi. Đàng này, Bác ôm tới 2 đảng. Bố ai chịu cho nỗi!). Nhờ cộng sản cho biết phải làm gì sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Hồ Chí Minh liền triệu tập Đại hội đảng cộng sản đông dương ở Tân Trào, Tuyên Quang, tháng 8/1945 để thành lập ngay “Uỷ Ban Khởi Nghĩa Toàn Quốc” và phát động cuộc tổng khởi nghĩa, cướp chánh quyền ở khắp các tỉnh trong nước. Đảng cộng sản đông dương do Hồ Chí Minh lãnh đạo, chỉ có Ban Chấp hành Trung ương khoảng dưới 20 người, Tổng Bí thư là Trường Chinh, và số đảng viên trên toàn quốc dưới 5,000 người. (Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Seuil, Paris, 1952, p. 182)

Với một lực lượng như vậy, Hồ Chí Minh cướp được Chánh quyền? Và Chánh quyền của Chánh phủ Trần Trọng Kim chớ hoàn toàn không ở người Nhựt hay Pháp.

Xin nhắc lại Chánh phủ Trần Trọng Kim không có Bộ Quốc phòng và không có quân đội nên không có vấn đề đề kháng. Đại sứ Nhật ở Huế là Ông Massayuki Yokoyama đến gặp Hoàng Đế Bảo Đại, đề nghị dùng lực lượng của Nhật tiêu diệt Việt Minh, vì tuy thất trận trên thế giới,quân đội Nhật vẫn còn nguyên vẹn ở Đông Dương, đủ sức đàn áp và giải táng Việt Minh. Lo sợ không khéo có thể nội chiến xảy ra trước sự can thiệp của ngoại bang, Hoàng Đế Bảo Đại từ chối đề nghị giúp đỡ của Ông Yokoyama. Người Nhật còn đề nghị với Thủ tướng Trần Trọng Kim. Cụ Kim nhắc lại: “Lúc bấy giờ người Nhật có đến bảo tôi (tức cụ Trấn Trọng Kim) Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Đồng minh đến thay. Nếu Chánh phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp, quân Nhật còn có thể giữ trật tự.

Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng, quân Đồng minh sắp đến, mình nhờ quân Nhật đánh người mình còn nghĩa lý gì nữa, và lại mang tiếng cõng rắn cắn gà nhà. Tôi từ chối không nhận.” (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi).

Lúc đó, quân đội Nhật trên toàn Đông Dương bất động vì đã được lệnh hạ khí giới và đầu hàng. Quân Pháp bị quân Nhật bắt cầm tù từ lúc đảo chánh. Nhờ nhà vua và Chánh phủ hết lòng muốn tránh đổ máu đồng bào vô ích và mọi phản kháng võ lực không có mà cộng sản Việt Minh mới tự do “cướp” Chánh quyền! Cách “chiến thắng” này được lập lại “ngày này”, 37 năm trước một lần nữa!

Phải chăng số phận đất nước đã an bài để dân tộc ta trả cho hết cái nghiệp kiếp trước và VC hà nội tiến lên cho hết cái tiến trình xã hội chủ nghĩa?
Sài gòn, đường Yên Đỗ

Lúc bấy giờ, chúng tôi cư ngụ đường Yên Đỗ, Quận 3, Sài gòn. Nhà chật, gia đình đông người với 2 cháu sinh viên, con của bạn ở Nha Trang vào ở trọ đi học. Gia đình của Thiếu tá Cảnh sát Đặc biệt ở Nha Trang khá đông người tới xin tỵ nạn vì các con lớn của ông là bạn học của 2 sinh viên đang ở với chúng tôi. Mọi người đành phải ngủ lăn ra đất vì không còn đủ chổ. Cái ăn hằng ngày quan trọng hơn chổ ngủ nhưng còn cầm cự được.

Ngày 29 tháng 4, ai cũng thấy Sài gòn chắc tiêu vong. Chúng tôi có điều kiện để di tản khỏi Việt nam bằng tàu thủy vì có người thân làm thuyền trưởng một chiếc tàu nhỏ chở đồ đạc, sự nghiệp vật chất, của một gia đình nhơn viên trong Chánh phủ, đem ra ngoại quốc vì người đã đi khỏi Sài gòn rồi bằng máy bay. Thủy thủ đoàn được quyền đưa gia đình đi. Nhưng trong tình cảnh như vậy, với trách nhiệm 2 sinh viên con cháu của bạn mà phụ huynh của chúng nó chưa biết ra sao ở Nha Trang, chúng tôi không thể bỏ ra đi được. Chúng nó cũng không thể đi với chúng tôi.Trong lúc trông ngóng tin tức thì Sài gòn mất.

Bạn bè của 2 cháu là sinh viên sĩ quan Thủ đức, Đa-lạt, Hải quân, sáng ngày 30/04, mang súng ống, mỗi người hai ba cây, nào M79, nào M16, … ghé qua chúng tôi để gặp bạn và hỏi thăm tin nhà. Vài phút sau, các cậu vội lột hia mão, súng ống đem bỏ trên lề đường cách xa nhà. Mặt mày vô cùng thảm nảo. Chưa thành sĩ quan. Chưa đánh mà đã thua rồi. Không buồn sao được!

Tội nghiệp nhứt là ông Thiếu tá Cảnh sát Đặc biệt. Ở Nha Trang, ông được VC treo giải thưởng cho cái đầu của ông là 1, 5 triệu đồng bạc Vn. Vì ông bắt được nhiều VC lẻn vào Thị xã hoạt động nên cơ sở của chúng bị phá vỡ liên tục.

Vài ngày sau, khi có xe đò, ông và gia đình đi về Nha Trang. Ông chấp nhận số phận của ông với hi vọng gia đình của ông không liên lụy bị hại. Không có cái đau khổ nào bằng cái đau khổ của ông Thiếu tá Cảnh sát Đặc biệt khi quyết định đi về nguyên quán trong tình hình VC vừa chiếm được vùng đất địch.


Thời gian khá dài sau đó, chúng tôi nghe tin ông và các con lớn của ông phải lên rừng đốn củi, đốt than sanh sống qua ngày. Bỡi theo phép tắc cách mạng, ông và gia đình không được quyền sống ở thành phố, không được quyền làm việc như những người khác. Ông không phải là một đơn vị của tập thể nhơn dân dưới chế độ mới. Hiểu hoàn cảnh của ông, nhớ lại gương mặt của ông, của mọi người trong gia đình của ông lúc chuẩn bị về quê, ngày nay, tức ngày này của 37 năm sau, chúng tôi không khỏi rơi nước mắt.

“…Chim Quyên xuống đất ăn trùng,
Anh hùng lở vận lên rừng đốt than … ( Sơn Nam )

Mà ông anh hùng thiệt! Anh hùng trong cách sử sự của ông đối phó với hoàn cảnh bi đác lúc đó. Ông có thể chạy trốn được nhưng chỉ một mình ông. Còn vợ con của ông? Sự chấp nhận cái chết một cách sáng suốt, bình tỉnh, biểu hiện được giá trị con người.

Trong gần đây, cách nay năm ba năm, chúng tôi được tin ông và gia đình định cư ở Huê kỳ, tiểu bang California nhưng chưa có dịp liên lạc với ông.
Nam Bộ kháng chiến, Mặt Trận GPMN, Tập kết.

Khu phố chúng tôi ở nằm phía sau building Mỹ, nhiều biệt thự ngoại quốc và Mỹ ở trước đây. Sau ngày này, Cục Xây Dựng II tiếp quản tất cả nha cửa ở đây đẻ cho nhơn viên vừa ở vừa làm Văn phòng quản lý các cơ sở sản xuất và buôn bán vật liệu xây cất của Quận Ba. Bên cạnh chúng tôi là ông Tổ trưởng Tổ Dân phố. Cán bộ và gia đình Cục Xây dựng thuộc Tổ Dân phố quản lý và phân phối một số nhu yếu phẩm. Nhưng chỉ một phần vì phần còn lại thuộc cơ quan của họ. Về khai báo, cán bộ cấp Trung cao khai ở cơ quan.

Cán bộ Cục Xây dựng ở đây đều là dân Nam kỳ tập kết trở về. Phần lớn, trước khi đi ra Bắc, họ có học tới vài năm Trung học hoặc ít lắm cũng qua Cấp Sơ học yếu lược. Tất cả đều có vợ Bắc kỳ. Hỏi sao ông nào về đây cũng có vợ Bắc kỳ hết vậy? Các ông cười trả lời: “Sau năm 1956, thấy không có Hiệp thương, tụi tui muốn làm loạn, đòi về Nam. Chánh quyền giải quyết bằng cách đưa chúng tôi đi du học. Phần lớn theo các nghành xây dựng, quản lý, kỹ thuật,... Trở về Hà nội, anh em đều được bố trí công tác. Đời sống tạm ổn định. Hết hi vọng chờ đợi nên ông nào cũng quơ đại một bà Bắc kỳ mà sống qua ngày”. Nhiều người về gặp lại bà vợ Nam kỳ. Ngày đi tập kết, họ hẹn nhau 2 năm, nhưng các bà đã chờ đợi chồng suốt hai mươi năm. Trọng cái tình nghĩa cao quí của vợ củ nhưng họ không biết đem bỏ bà vợ Bắc kỳ ở đâu cho yên. Thật tội nghiệp. Ở với cả hai, đảng không chịu vì Bác Hồ còn không có một bà nào hết kia mà!

Khi ra đi sau Hiệp định Genève,họ hẹn nhau hai năm, sau hai mươi năm gặp lại nhau, vẫn còn hơn dân Miền nam, sau ngày “giải phóng”, hẹn với vợ con chỉ có mười ngày hoặc một tháng, mà hơn mười lăm năm sau mới về gặp lại gia đình trong cảnh tan nát! Có đau thương hơn không?

Chúng tôi quen anh Tư Thể, Giám đốc Công Ty Vật liệu xây dựng thuộc Cục Xây Dựng II. Thời gian qua, chúng tôi hiểu nhau và trở thành thân nhau hơn. Cán bộ ở đây cho rằng chúng tôi, tức bà con ở đây, thuộc thành phần nhơn dân tiến bộ.

Một hôm, anh Tư Thể ngồi uống trà, bổng sụt sùi khóc, nói nhỏ như muốn giải bày nổi lòng:

- Một buổi tối, dừng chơn lại trên đường về để xây cất cơ sở cho Chánh phủ Lâm thời, tôi nghe tin Sài gòn mất. Tôi lặng người như chết thật sự. Tôi tới nhà dân gần đó, xin vài cây nhang. Tìm chổ vắng, tôi thấp lên và hướng về quê hương tạ tội: tôi về đây, tôi theo đảng hay lo cho cha mẹ, anh em, bà con Miền nam? Tôi đã khóc ngất. Tôi biết tôi nghĩ tới gia đình, bà con, thì đảng sẽ khai trừ tôi. Tánh mạng của tôi chưa chắc được yên. Tôi theo đảng thì cha mẹ tôi, bà con sẽ không thể nhìn mặt tôi nữa. Mà lòng dạ nào tôi phản bội cha mẹ, anh em, bà con Miền nam?

Anh tâm sự thêm:

- Thằng Thiệu, lúc chiến tranh cao điểm, nó còn tới Quảng Trị thăm lính của nó. Còn Bác Hồ chưa bao giờ đi tới với bộ đội. Gần hết quân đội Miền Bắc gởi vào chiến trường Miền nam mà Bác Hồ chưa môt lần vào Miền nam. Thế mà Bác thường nói, “Miền nam trong trái tim tôi”. Tố Hữu còn làm thơ ca ngợi Bác:

“Miền nam mong Bác nỗi mong cha,
Bác nhớ Miền nam, bố nhớ nhà”.

Anh nói thêm một cách quả quyết:

- Để rồi coi. Sẽ không còn Nam bộ kháng chiến. Không còn Mặt Trận GPMN. Không còn Chánh phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền nam gì hết. Chỉ còn một đảng độc nhứt. Tội nghiệp cho bà con Miền nam không hiều cộng sản hà nội nên sẽ khổ.

Nới tới đây như thấy nhẹ người, anh trầm tỉnh căn dặn:

- Bà con nhớ kỹ đừng nói lại những điều tôi nói. Tụi nó cắt cổ tôi mà cũng liên lụy tới bà con nữa nghen.

Chúng tôi vượt biển tới Mã-lai. Hai tháng sau, chúng tôi tới Pháp định cư. Chúng tôi nhận được thư của bà con lối xóm cũ có kể lại chuyện anh Tư Thể một hôm tới thăm. Ông thấy nhà đóng cửa, hỏi lối xóm, được biết gia đình đó đã vượt biển rồi, ông đứng trước nhà ngẩn ngơ:

- Trời ơi! Đời này, tôi còn biết tin ai nữa bây giờ!

Chiếc cặp trên tay ông như muốn rơi khỏi tay.

Không biết anh Tư Thể và các anh Nam kỳ tập kết ra Bắc theo tiếng gọi yêu nước đi làm giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa giờ này ở đâu?

“Hồn ở đâu bây giờ”? *

Nguyễn thị Cỏ May

* Thơ Vũ Đình Liên, Ông Đồ

Người Mỹ đang cảm nhận một điều quan trọng: những giới hạn từng giữ quyền lực trong khuôn khổ dân chủ đang bị chọc thủng. Cuộc xuống đường lần này, vì thế, không đơn thuần là phản ứng chính trị, mà là phản xạ tự vệ của một số đông dân chúng nhìn thấy trật tự hiến định bắt đầu bị xê dịch.
Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.