Hôm nay,  

Ôi Đàn Bà!!!

26/05/201300:00:00(Xem: 18530)
“…Là chỉ mình lẽ phải, các ông thua …
Là hỏi gì không nói, gọi không thưa…
Là ngoài trời vừa nắng lại vừa mưa
Là cãi cọ, các ông vẫn là thua thiệt
Là vắng nhà một bữa đã nhớ mong…
Tạ ơn trời đàn bà vẫn còn đó...
Chỉ đàn ông? Ôi chi bằng tận thế!” (*)

Mấy vần thơ dân gian giản dị trên đây đã giúp nhận diện khá rõ nét các bà với những đặc tánh hoàn toàn phụ nữ bất biến với thời và không gian. Đời là “vô thường” nhưng những đặt tánh này thì không bao giờ là “vô thường” hết cả.

Trước giờ, khi đề cặp tới các bà, người ta chỉ nói các mặt tiêu cực về địa vị xã hội của các bà theo đó các bà luôn luôn là nạn nhơn của những vụ bạo hành trong gia đình và cả ngoài xã hội. Tình trạng bất bình đẳng về nghề nghiệp, lương bổng, và về nhiều quyền lợi khác như quyền trước công lý, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được đi học, …làm cho đời sống người phụ nữ vì đó bị nhiều khó khăn hơn đối với các ông tuy luật pháp đã ban hành bảo đảm sự bình đẳng cho cả hai giới, xử lý nghiêm khắc những vi phạm.

Nói về các bà chỉ nói về địa vị xã hội thôi cũng là điều đã phải nói nhiều nhưng vẫn chưa xong, chưa kết thúc. Đã vậy, ở các bà còn những điều ít ai để ý tới vì nó không thuộc về “nữ quyền” mà đó là những chuyện khá đặt biệt về các bà, của các bà, và chỉ có ở các bà mà thôi!

Cỏ May xin sơ lược vài chuyện lượm lặt được đây đó, qua báo chí, sách vở nói riêng về các bà.

Trưóc nhứt, xin nói về ưu điển chói lọi của các bà. Dân Tây của Cỏ May đã phải ngã nón bày tỏ lòng ngưởng mộ và thán phục Bà Julia Gillard, Thủ tướng Liên bang Úc châu, đã hơn một lần lớn tiếng xác định đường lối chánh trị của Bà "vì nước Úc" là trên hết. Không vì lá phiếu kiểu chánh trị mị dân (la politique politicienne) biết rằng Úc là nước đa văn hóa và đa sắc tộc. Không như nước Pháp hay nhiều nước ở Âu châu. Bà bày tỏ cùng quan điểm với vị tiền nhiệm John Howard về di dân hồi giáo cực đoan:

"Nơi đây là xứ sở của chúng tôi, đất đai của chúng tôi và phong cách sống của chúng tôi.

Và chúng tôi đem lại cho các bạn cơ hội thụ hưởng tất cả các thứ đó. Nhưng nếu các bạn thấy không hài lòng, các bạn thấy quốc kỳ của chúng tôi, đường lối chánh trị, tín ngưởng thiên chúa giáo, hoặc tập quán xã hội văn hóa của chúng tôi làm cho các bạn khó chịu, tôi khuyến khích các bạn nên sử dụng ngay một thứ quyền tự do lớn khác của nước Úc vốn từ lâu dành cho các bạn, đó là " Quyền đi khỏi nơi đây".

Dư luận pháp đã không ngần ngại tán dương Bà Thủ tướng Julia Gillard của Úc xứng đáng là " Nữ Hoàng thế giới " (La Reine du monde).

Chỉ vì "đàn bà"

Câu nói của Bà Simone de Beauvoir, triết gia tài hoa của Pháp và cũng là chiến sĩ nữ quyền của thời đại, thật bất hủ "Người ta sanh ra không phải là đàn bà, mà chính xã hội đã biến người đó trở thành đàn bà ". Thật vậy, khi người phụ nữ trở thành "đàn bà" thì đúng là lúc người phụ nữ phải gánh chịu những bất hạnh dường như đã được xã hội dành sẳn cho họ.

Ở xứ Tàu, cái nôi văn hóa khổng mạnh, công lý của chánh quyền cộng sản ngày nay đã xử phạt một người phụ nữ với tội danh "một người đàn bà mang sắc diện thiếu thẳm mỹ", tức một người "đàn bà mang tội xấu". Báo Huffington Post chạy tít của bản tin đó "Người ta có thề bị kết án vì ngoại hình bất hạnh? Công lý của xứ Tàu đã làm".

Ở Tàu, cậu Jian Feng yêu tha thiết người vợ xinh đẹp của mình. Sau đứa con đầu lòng, nhan sắc của người đàn bà bổng nhiên trở thành tàn tạ. Anh chồng dựng cớ đứa con không giống cha, cho rằng đứa con do ngoại tình, để đòi ly dị. Người vợ thú nhận đã chi 75 000 mỹ kim nhờ giải phẩu thẩm mỹ thay đổi dắc diện hoàn toàn, nay vì sanh đẻ, những khuyết tật xưa tái xuất hiện. Anh chồng nhứt định đưa ra Tòa ly dị và đòi tiền thiệt hại. Tòa xử người vợ đã cố tình che dấu dung nhan xấu để gạt anh chồng, chấp nhận đơn xin ly dị và dạy người vợ phải bồi thường anh chồng 100 000 mỹ kim thiệt hại.

Anh là một nước dân chủ, văn minh, Tòa án vẫn phạt người phụ nữ vì những lý do vớ vẩn không khác gì xứ cộng sản độc tài và lạc hậu như Tàu.

Bà Julie Griffiths bị tòa án nước Anh xử phạt 500 bảng anh về tội "bà lớn tiếng la mắng ông chồng, làm ầm ỉ cả xóm". Thật ra tội danh chánh thức ghi trong bản án là "có hành vi chống lại xã hội".

Theo cáo trạng, Bà Julie Griffiths làm việc 12 giờ mỗi ngày trong nhà máy bị nhiều căng thẳng và bực bội. Khi về tới nhà, thay vì chửi chó mắng mèo, ném chén quăng dỉa cho hạ hỏa, bà cứ nhằm ông chồng mà quần. Bà chửi mắng quá to tiếng khiến lối xóm không ngớt than phiền trong suốt ba năm dài như vậy.

Sau cùng, để giải quyết sự khiếu nại của lối xóm, cảnh sát đem máy đo âm thanh đặt tại hai nhà láng giềng.

Quả thật lời quát mắng chồng của bà đã vượt quá mức cho phép. Sau nhiều lần cảnh cáo, cảnh sát đành phải lập biên bản và đưa bà ra Tòa.

Tòa còn ra lệnh cấm bà la lớn trong 5 năm. Nếu vi phạm sẽ bị phạt 500 bản anh nữa và thêm 5 năm tù ở.

Có người nghĩ không biết ông Tòa phạt Bà Julie Griffiths thật tình vì "có hành vi chống lại xã hội" hay đây chỉ là cơ hội ngàn năm một thuở để phục hận theo kiểu "giận cá chém thớt "?

Phần lớn các ông khi đọc được tin này đếu lấy làm phấn khởi trong lòng, không dám để lộ ra trên sắc diện.

Và cũng từ hôm ấy, Sở di trú Anh đón nhận khá nhiều hồ sơ xin di dân qua nước Anh giống như hồi sau 30/04/75, nhiều gia đình Việt nam tới xin tỵ nạn chánh trị vậy.

Cũng đàn bà

Ai cũng bảo các bà là vô cùng bí hiểm. Mò kim đáy biển còn dể hơn tìm hiểu các bà. Thật ra các bà thường có đời sống tâm lý khá phức tạp. Có những phản ứng khó đo lường hoặc khó giải thích tại sao.

Ở Pháp, hiện có tới 1/5 phụ nữ tìm cách dấu kích thước của thân thể. Không phải dấu với người ngoài, mà dấu sự thật đó với ngay chính mình.

Thật ra, nói cho chính xác, có hơn 1 phụ nữ trên 5, tức 21%, thừa nhận là đã tự nói dối với mình về kích thước (taille/size) quần áo. Các bà đi mua quần áo cho chính mình với kích thước nhỏ hơn rất nhiều (kết quả điều tra của CodesPromotion.fr công bố hôm 31/10/2012).

Nhu cầu có dáng vẻ mảnh khảnh hơn và mang ảo tưởng cho mình có tầm vóc một con người lý tưởng, đó là động cơ thúc đẩy các bà nói dối về kích thước thật của mình. Trong số 21% các bà nói dối, có 63% nhìn nhận nói dối là để tự tạo niềm tin, còn 29% tự tạo cho mình cảm giác dể chịu khi qua " két "trả tiền. Quần thường, quần Jean và sú-cheng là ba món đối tượng cho các bà nói dối.

Trước tâm lý phức tạp này của các bà, thử hỏi Ngọc Hoàng Thượng Đế có giáng lâm liệu Ngài có thể hiểu nổi không?

Một trường hợp khác, người ta kể, ở Pháp có một người đàn ông bị đi tù sáu tháng vì tội đánh vợ. Mãn hạn tù về chưa đầy một tuần lễ, anh ta đã khăn gói đến xin Ban Quản đốc nhà tù cho được tiếp tục ở tù thêm. Hỏi vì sao không ở nhà mà lại muốn vào tù? Anh ta thú thật, tuy ở tù chẳng sung sướng gì nhưng còn hơn ở nhà, vì ở tù không phải nghe vợ phát thanh liên tục bên tai suốt ngày đêm!

Một cuộc điều tra xã hội học ở Trung Quốc trên 1.027 đàn ông ở nhiều vùng dân cư khác nhau với câu hỏi: “Vợ anh có thói xấu gì khó chịu nhất? ”, thì đến 82% trả lời "đó là tật nói nhiều". Hóa ra, ai cũng sợ cái tánh nói nhiều, nói dai của các bà vợ. Nỗi sợ này có nguồn gốc sâu xa từ thuở nhỏ, các cậu bé đã bị mẹ mắng mỏ nhiều quá. Đàn ông lẩn tránh các “lời khuyên” của vợ cũng giống như khi còn nhỏ họ lẩn tránh lời dạy dổ của mẹ. Thực tế “phái mạnh ” luôn luôn là nạn nhơn chung thân của “phái yếu”. Ta thử kiểm điểm lại: lớn lên một chút bị chị mắng. Lớn hơn chút nữa, bị người yêu trách. Lấy vợ, bị vợ cằn nhằn, đay nghiến, quát tháo... Về già cũng chưa yên. Có cụ ông khi tiễn cụ bà về nơi an nghỉ cuối cùng đã tưởng từ nay mình được yên thân cho tuổi già. Nào ngờ, cụ lại phàn nàn: “Con gái tôi bây giờ cũng nói nhiều chẳng kém gì mẹ nó! ”.

Tại sao đàn ông, cả những người từng can trường, coi thường việt cộng mà lại sợ các bà nói và chi có nói mà thôi? Nói đâu có nguy hiểm chết người như việt cộng vũ trang đầy người?

Các ông sợ bà vợ nói nhiều vì nói làm cho người ta khó chịu đến mức có thể ăn không ngon, ngủ không yên, cứ chợp mắt là bị ác mộng giựt dậy, sức khỏe thể chất và tinh thần cùng suy thoái dần, chẳng bao lâu làm sinh bệnh mà... chết.

Kết quả điều tra với các ông chồng, có đến 95% những bản văn của các bà vợ đều giống nhau! Nhiều ông chỉ thoáng nghe câu đầu đã biết toàn bộ nội dung của bản văn tuy chưa tới hồi kết thúc.

Theo các nhà tham vấn gia đình thì trên đời khó có ông chồng nào thoát khỏi bị vợ chê. Đó là một thực tế khá đau buồn.

Chồng bác sĩ thì bị vợ la rầy máy giặt ở nhà hư, sửa không được. Chồng làm nhà báo nói (Phát thanh và Phát hình) bị vợ phàn nàn suốt ngày chỉ nói chuyện không đâu mà không nói đươc một câu có ý nghĩa thực tế làm cho vợ hài lòng...

Tóm lại là anh đã lấy vợ thì không cách gì mà anh có thể tránh khỏi bị vợ chê, không chuyện này thì chuyện khác. Xưa nay phụ nữ ít khi chịu khen chồng. Chỉ có so sánh chồng mình vói người khác để chê trách. Nhưng liệu hồn nếu ông nào vì nổi nóng bảo bà ấy hãy ưng người đó đi, thì không phải bà ấy chỉ dẩy nẩy từ chối mà còn sấn tới cho biết tay bà nữa là khác!

Vậy khi mới quen nhau hay mới yêu nhau, người phụ nữ có như vậy không? Thưa chắc chắn là không ạ. Các bà, các cô hiền và mềm nhũn như con chi chi. Chỉ từ lúc lên ngôi Bà thì nanh vút mới bắt đầu mọc, và dài ra và bén nhọn.

Đã có những nghiên cứu tìm hiểu tại sao phụ nữ nói nhiều? Các nhà khoa học phát hiện nguyên nhân chính là do đàn ông. Vì hiện nay, người phụ nữ đã được luật pháp bảo đảm cho họ quyền bình đẳng với nam giới vậy mà hầu hết việc nhà, các bà vẫn còn phải đảm trách phần lớn như chăm sóc con cái, cơm nước, dọn dẹp nhà cửa,... Thì giờ dành cho các bà nghỉ ngơi vẫn còn quá it so với số thì giờ của các ông được hưởng.

Vậy muốn giúp các bà bớt la hét cho êm cửa, êm nhà, các ông có thể ăn ngon, ngủ yên, sức khỏe sung mãn, không có cách gì khác hơn là các ông đi làm về xông vào lo hết mọi chuyên ở nhà, từ dọn dẹp, cơm nước, chén bác, để các bà không có việc gì phải làm hết.

Chắc chắn trong một lúc nào đó, các bà sẽ năn nỉ các ông xin làm lại việc nhà. Vì sẽ cảm thấy phải chăng mình không còn phải là đàn bà nữa!

(*) Rất tiếc không biết tên tác giả

Nguyễn thị Cỏ May

Người Mỹ đang cảm nhận một điều quan trọng: những giới hạn từng giữ quyền lực trong khuôn khổ dân chủ đang bị chọc thủng. Cuộc xuống đường lần này, vì thế, không đơn thuần là phản ứng chính trị, mà là phản xạ tự vệ của một số đông dân chúng nhìn thấy trật tự hiến định bắt đầu bị xê dịch.
Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.