Hôm nay,  

Nghề Rèn

06/09/201522:16:00(Xem: 16017)
Nghề Rèn
 
VÕ HOÀNG

 

Hơn một tiếng đồng hồ rồi, Tư Huỳnh uống gần hết một bình trà mà than vẫn cứ cháy ngún ngún ở một góc lò. Thằng Mót vẫn chưa thấy tới. Hôm nay làm gì thì cũng phải rồi mấy cái lưỡi búa cho “thằng chả,” xong cái nợ đời, còn phải làm này làm nọ kiếm tiền nữa chứ!

Tư Huỳnh ngẫm nghĩ mà thấy mình vô phước, tưởng rằng làm thợ rèn vào thời buổi này dễ kiếm ăn, ai có ngờ nhiều việc phải làm không công, còn bị lằng nhằng khen chê.

Ở một góc lò, một đống ngùn ngụt nào là miểng bom, nhíp xe hơi, cọc sắt… Tư Huỳnh liếc xéo về phía đó, phát ngán. Tiền không ở đó mà chưa có giờ làm. Cả tuần loay hoay với mấy cái lưỡi cuốc “chưn tượng” làm cho Tư Huỳnh thấy rằng nghề của mình thật sự “chưa tới.” Không phải tại lửa, không phải tại nước sao nhiều cái bị nứt, chặt bỏ bớt xong rèn lại cũng bị nứt.

Hư, thường cho người ta là cái chắc, mà nhiều cái hư quá lấy gì mà thường, vì cuốc có đai, nhưng phải đai chưn tượng, không chưn tượng người ta không chịu. Tư Huỳnh không còn thấy hăng hái mấy trong cái nghề của mình, nhiều lôi thôi quá mà khó kiếm ăn.

Thằng Mót tới. Nó vừa đánh bò cạp vừa móc túi lôi ra bịch thuốc rê. Tư Huỳnh phì cười:

“Che mưa mà che bằng vải, cũng như không. Trời lạnh quá, mầy uống trà không?”

“Ừ, để đó tui, chú Tư.” Thằng Mót lột tấm lều vải ra khỏi người, lưng áo nó ướt một nửa phần trên. “Thứ này lâu thấm nước mà gió hổng bay, ‘đã’ hơn mủ chớ chú Tư!”

Lều vải “đã” hơn mủ, dao nhíp xe “đã” hơn dao cọc sắt, thuốc vấn “đã” hơn thuốc Vàm Cỏ, thằng này thì luôn luôn có cái này “đã” hơn cái kia. Tư Huỳnh với lấy một miểng bom nhỏ cào nhẹ bùn dưới gan bàn chân, chép miệng:

“Bữa nay ông Ba Sửu tới lấy mấy cái lưỡi búa, chút nữa mày cưa thêm hai khúc sắt làm luôn cho rồi, mai rảnh được làm cho người ta kiếm tiền.”

Thằng Mót lặng thinh. Nó không còn bực mình khi nghe Tư Huỳnh nhắc tới Ba Sửu nữa. Dưới mắt nó, “thằng chả làm lớn trong hậu cần mà chỉ được có cái tháo nhíp xe mười bánh bán cho lò rèn, rồi mượn làm giùm cái này cái kia…”

Dốc ngược ấm nước châm thêm vô bình tích, thằng Mót sực nhớ ra điều gì cần nói:

“Ờ, chệt Hón làm lèm phát, bán có tám trăm một cái hà chú Tư, chả còn nói là lèm của mình non lửa, mà mũi thì quá già, dễ gãy. Tui nghe tui tức mình.”

Tư Huỳnh nhìn thẳng vào mắt thằng Mót một lúc thì thở ra. Tự dưng mà thấy buồn ngủ trở lại. Phải chi nghĩ tới một số ít tiền sẽ được ngày hôm nay mà nghe thằng Mót nói tới vụ chệt Hón cũng rán mà làm, đàng này chút nữa Ba Sửu tới, cà kê đủ thứ chuyện từ chuyện hồi chín năm tới chuyện lập tổ hợp thợ rèn huyện, từ chuyện biển động chìm xuồng tới chuyện chệt Hón làm bộ đau không rèn giúp đồ hậu cần, rồi thỉnh thoảng “chỉ thị” thằng Mót dũa lại cạnh kia chút xíu, mài lại góc này chút xíu… Tư Huỳnh ngó ra ngoài, thầm mong đừng bao giờ thấy mặt Ba Sửu và thầm mong trời tối thật nhanh cho hết thật sớm ngày hôm nay.

Vậy mà làm xong cái đai búa đầu tiên thì Ba Sửu tới. Hắn dắt xe vào dựng tuốt phía trong lò rèn và để nguyên áo mủ ra ngồi trên sạp tre, hắt bỏ tách nước dư rót lại đó một ít, xong mới chào Tư Huỳnh:

“Mạnh giỏi anh Tư. Bữa nay thì chắc thế nào cũng xong đồ tui hén, tốt quá. Nghỉ tay chút đi, anh Tư, uống miếng trà mà. Mót, nghỉ mầy, làm nhiều quá không sợ đau sao?” Hắn uống một ngụm rồi nói luôn, “Mấy cái này chắc làm hơi lâu hả anh Tư, phải tối mới xong. Tôi chỉ ở đây được một chút rồi phải lên huyện có chuyện, để coi anh làm xong cái đầu ra sao đã, tui cho thêm ý kiến.”

“Ừ, ý kiến!” Tư Huỳnh buông búa đặt khối sắt hừng hực nóng trở lại lò, cười gượng:

“Bảo đảm, bảo đảm mà anh Ba, tối xong mà.”

Thằng Mót cũng thôi không kéo cưa nữa, nó ngồi bẹp trên miếng ván dầu, quẹt mũi nhìn chầm chập vào khúc sắt đang cưa dở nửa chừng, không nói gì cả. Tư Huỳnh gác một chân lên máng nước, ngửa cổ uống cạn tách trà:

“Cây lèm phát hôm trước xài được không, anh Ba? Tui ưng ý cây đó nhứt đó, nhíp xe mà!”

“Được thôi, hơi non lửa. Đáng lẽ anh trui thêm ít nước nữa, mới chặt tràm mà phải mài liền liền, gặp đước, bằng lăng dám cuốn mép lắm.”

Tư Huỳnh biết hắn nói đúng: “Đồ làm giùm nó vậy đó, hơi đâu tốn than trui cho tới!”

Ba Sửu xếp hai chân lên sạp, cao giọng:

“Nhu cầu lèm phát rồi đây tăng lên nhiều lắm, anh Tư. Đừng lo không có việc.”

Tư Huỳnh giật thót người. Đừng lo không có việc làm giùm à? Thằng Mót lần này không thể không quan tâm tới Ba Sửu, nó thỏ thẻ:

“Ông Hón làm lèm ‘tới’ lắm, chú Ba. Ổng làm mau hơn chú Tư nhiều.”

Ba Sửu đồng ý ngay:

“Cha Hón là thâm niên mà, chả chỉ có cái nghề rèn. Rồi đây tổ hợp cần nhiều thợ giỏi như vậy đó.”

Thằng Mót nói câu vừa rồi đúng là một câu nói mà Tư Huỳnh muốn nói. Tổ hợp thợ rèn huyện trong tương lai sẽ có hai lò. Người, thì cha con chệt Hón, Tư Huỳnh và thằng Mót. Tư Huỳnh lâu nay vẫn nghĩ nghề rèn mặc dầu cũng là nghề “làm dâu thiên hạ” nhưng ít ra phải có ít nhiều duyên nợ mới sống với nó được.

Việc tổ hợp làm thằng Mót lải nhải nhiều ngày và có ý định không làm với Tư Huỳnh nữa. Có một dạo, nó để Tư Huỳnh vừa quay quạt gió, vừa vỗ đe, rồi mài, giũa… Cáng đáng hết công việc cần có ít nhất hai người làm. Nó không đành lòng, phải trở lại lò.

Nửa năm nay, thằng Mót đã làm Tư Huỳnh thấy rằng nghề rèn không còn là một cái nghề nữa bằng cái nhìn thật sự ngán ngẩm với tổ hợp trong tương lai mà nó sẽ là một tổ viên.

Vô tổ hợp được mua đồ chế độ mà lương đâu có bằng mình làm riêng, chú Tư. Làm riêng “đã” hơn nhiều. Làm riêng dĩ nhiên là “đã” hơn, nhưng nhu cầu của hậu cần nhiều lắm, Ba Sửu nói thế và cho biết Huyện “quyết định yêu cầu” hai lò rèn phải sát nhập thành tổ hợp, vả lại, “cái lò anh Tư ở giữa xóm, mà theo phong tục nước ta, lò rèn phải ở đầu xóm, cuối xóm.”

Trong thâm tâm, Ba Sửu nghĩ rằng mình đã làm cái công việc thuyết phục được người thợ rèn theo sự sắp đặt của mình. Thằng Mót cũng cho như thế: “Chả đem hết đồ này đồ nọ tới làm, toàn là nhu cầu của huyện, của hậu cần làm mình đâu có dám nghỉ bỏ ngang xương được, chú Tư.”

Nhưng Tư Huỳnh cảm thấy không đúng hẳn như vậy. Nghề rèn dầu “tới” hay chưa cũng đã là nghề của mình. Cái “tinh” trong nghề mình đã bòn mót bao nhiêu năm nay đâu dễ một sớm một chiều bị gạt hẳn ra ngoài cuộc sống bằng những chuyện xét ra không dính líu gì tới sự cố gắng của mình. Việc Ba Sửu đem đồ đạc tới tấp nhờ làm giùm và việc lâu nay Tư Huỳnh phải mất ăn mất ngủ vì mấy lưỡi cuốc “chân tượng” là hai việc hoàn toàn khác nhau, mặc dầu hai việc đều đem lại cho Tư Huỳnh sự buồn nản kéo dài từ ngày này sang ngày khác.

“Không phải tại nước, không phải tại lửa,” Tư Huỳnh lẩm bẩm mãi vấn đề này. “Chẳng lẽ tại mình?”

Lâu nay nghĩ mãi Tư Huỳnh cũng vẫn chỉ biết có vậy, nếu không tại mình thì chắc chắn là tại chất thép. Có lần, Tư Huỳnh nghĩ tới sự phối hợp có thể giữa khối sắt nung đỏ và cái tâm của người thợ, những nhát búa chẳng hạn…

Ba Sửu dắt xe đạp lướt ngang qua mặt, miệng lải nhải những gì không rõ lắm. Tự dưng, Tư Huỳnh buông tách nước ngã sang, nói với theo:

“Bữa nào anh Ba về rẫy, trở lại đem theo cây lèm hôm trước tới đây tui trui lại nghe.”

Thằng Mót đang dúi đầu vào cái lưỡi búa làm dở, phần đuôi cắm ngập xuống than hồng, quay phắt lại:

“Ai biểu” – nó liếc nhanh ra cửa – “hôm trước chú Tư nói là làm cho cha Ba Sửu là làm lấy có thôi. Bây giờ chú kêu trui lại, mất công thêm.”

Nhìn theo cái bóng dáng hăm hở sấn ra ngoài trời đang mưa, Tư Huỳnh thấy lòng thật nhẹ nhàng. “Mình sẽ không bỏ nghề. Thằng Mót làm sao biết được có những ràng buộc thật thân ái giữa cái im lặng tịch mịch và tiếng bóp chát chói tai làm con người ta cảm thông được với những cái chướng mắt nhất trên đời. Thằng Mót làm sao biết được có những ràng buộc thật thân ái giữa tàn lụi của than hồng và sức chịu đựng vô cùng tận của máng nước làm con người ta dễ dàng nhận thấy cái tinh diệu của trời đất. Ừ! Cái máng nước chứa đựng trọn vẹn năm thức kim, mộc, thủy, hỏa, thổ của ngũ hành. Nhất là điều này, Ba Sửu lại càng không hiểu.

Tư Huỳnh lại nghĩ trở lại những lưỡi cuốc bị nứt và thấy rằng mình sẽ có lúc tìm được nguyên do, chứ bây giờ thì chưa ngoài cái ý tưởng nhất thời là cứ đổ thừa cho chất thép của nó không tốt, vậy thôi.

“Chệt Hón nói mình như vậy là đúng, Mót à! Ngày mai chắc tao nghĩ một bữa xả hơi.”

Tư Huỳnh luồn tay gãi lưng, ngẫm nghĩ, “Ít nhất cũng đúng với trường hợp Ba Sửu.” Thằng Mót quơ cây sắt nhỏ gạt đùa những hòn than trên lò. Tiếng nổ lách chách và những vệt lửa văng tung toé chắc làm nó vui lắm. Nó nghĩ tới ngày mai có quyền nằm nhà đọc hết cuốn chưởng, cho “đã.”

Tư Huỳnh cúi mình rót trà, nghĩ đến những lời lẽ thân thiện nhất để nói với chệt Hón vào ngày mai về nghề rèn.

(Trích: Măng Đầu Mùa, của Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1982.

Nguồn: https://gocbebentroi.wordpress.com/2011/06/21/ngheren/ )

 

***

 

Truyện ngắn trên của nhà văn Võ Hoàng.

Tên thật Võ Hoàng Oanh. Sinh 1952 ở Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

1974: Gia nhập Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.

1975-1976: Tù cải tạo.

1978: Vượt biển, đến Úc.

1979: Định cư ở Hoa Kỳ.

1980-1981: Cộng tác viên báo Đại Dân Tộc của Hà Túc Đạo và tạp chí Việt Nam của Vũ Thế Ngọc.

1982: Cùng với Tưởng Năng Tiến, Thượng Văn, Lý Khánh Hồng chủ trương tạp chí Nhân Văn ở San Jose.

1983: Gia nhập Mặt Trận ông Hoàng Cơ Minh.

1984: Về Thái Lan, Đông Dương.

1984-1987: Uỷ viên chính trị cấp Kháng Đoàn.

1986: Tổng Thư Ký Hội Văn Nghệ Kháng Chiến.

Mất ngày 28 tháng Tám 1987, tại rừng núi Nam Lào.
.

Tác phẩm:

Măng Đầu Mùa, truyện ngắn, cùng viết với Tưởng Năng Tiến, Nhân Văn xuất bản 1982.

Trong Lòng Cách Mạng, truyện ngắn, Nhân Văn xuất bản 1983.

Góc Bể Chân Trời, truyện dài, Nhân Văn xuất bản 1983.

Đất Lạ, truyện ngắn, cùng viết với Tưởng Năng Tiến, Hương Quê xuất bản 1984.

 

.

Nhà văn Võ Hoàng sẽ được tưởng niệm chung trong
Lễ Tưởng Niệm Cố Đề Đốc Hoàng Cơ Minh
và Các Anh Hùng Đông Tiến Năm Thứ 28
Ngày: Chủ Nhật, ngày 13 tháng 9 năm 2015
Từ    : 3 giờ đến 6 giờ chiều
Tại    : Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ
         14140 All American Way, Westminster, CA92683.

 

 


.
.

Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
Sau ngày 30-4-1975 Bắc Việt Nam (NVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực NVN về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm Nam Việt Nam (NVN) và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có trụ sở đặt tại Geneva, được thành lập vào ngày 7 tháng 4 năm 1948 và hiện nay có 194 quốc gia thành viên. Công việc chính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) là giúp các nước nghèo chống lại bệnh tật. Và để có khả năng làm được công việc này, WHO cần sự đóng góp của tất cả các quốc gia thành viên.(1)
Đại Dịch Corona Virus (Covid-19)-còn gọi là Virus Vũ Hán được xác định đầu tiên vào ngày 31 tháng 1 năm 2019 ở Vũ Hán (Trung Quốc), nhưng có thể xảy ra vài tuần trước ngày này khiến cho đến ngày hôm nay (16 tháng 4 năm 2020) ở Mỹ đã có 639,664 ca nhiễm bịnh, 30,985 người tử vong và 52,738 đã bình phục (theo Global update). Theo BS Anthony Fauci, Giám đốc Viện Dị ứng và Bệnh Truyền nhiễm Quốc gia Mỹ trong cuộc họp báo ngày 6 tháng 4 năm 2020 cho biết: “Chánh quyền Trung cộng đã cố tình đánh lừa thế giới từ nhiều tháng trước ngày 31 tháng 1 năm 2019 khi họ nói rằng Virus này chỉ lây truyền từ động vật sang người, nhưng thực sự đây là loại Virus rất nguy hiểm, không những chỉ lây truyền từ người sang người một cách dễ dàng mà còn lây lan trên diện tích rộng.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.