Hôm nay,  

Song ngữ: Đức Phật dạy: Thường trực thấy vô ngã sẽ giải thoát

13/12/202407:38:00(Xem: 7673)

Đức Phật dạy: Thường trực thấy vô ngã sẽ giải thoát
 

Tuệ Trung Thượng Sỹ, một Thiền sư lớn của Việt Nam trong thế kỷ 13, từng nói rằng muốn vượt qua dòng sông sinh từ cần tự nhìn thấy thân và tâm mình như một con trâu bùn, vì khi trâu bùn bước xuống sông là sẽ tự tan rã. Nghĩa là, luôn luôn tự thấy mình là vô ngã, và đó là cách vượt sông sinh tử. Đó cũng là một cách mô tả lời dạy của Đức Phật.
 

Trong Kinh SN 12.70 Sutta và Kinh SA 347 Sutra, Đức Phật dạy rằng những người thường trực thấy thân và tâm là vô ngã sẽ giải thoát, sẽ trở thành A la hán, mà không cần tu luyện bất kỳ thần thông nào phức tạp.
 

Hai kinh này kể chuyện một người ngoại đạo tên là Susima xuất gia, vào trong Tăng đoàn của Đức Phật. Khoảng nửa tháng sau, Susima nhìn thấy nhiều vị sư tới trước Đức Phật, bạch rằng họ đã chứng quả A la hán, rằng họ đã làm xong những việc nên làm. Đức Phật chấp nhận rằng các vị sư đó đã chứng quả A la hán, đã giải thoát.
 

Sau đó, Susima hỏi các vị sư đó rằng có phải các sư đã chứng thần thông, đã đi xuyên ngang qua vách, qua núi, đã đi trên nước không chìm như đi trên đất liền, hay đã ngồi kiết-già bay trên hư không như chim bay. Các vị sư đó nói rằng họ không có thần thông như thế.
 

Susima hỏi các vị sư đó rằng có phải các sư đã chứng được thiên nhĩ, có thể nghe xa ngàn dặm. Các vị sư đó nói rằng họ không có thần thông như thế.

Susima hỏi các vị sư đó rằng có phải các sư đã chứng được tha tâm thông, biết được tâm của các chúng sanh khác, người khác. Các vị sư đó nói rằng họ không có thần thông như thế.
 

Susima hỏi các vị sư đó rằng có phải các sư đã nhớ được nhiều đời quá khứ. Các vị sư đó nói rằng họ không có thần thông như thế.
 

Susima hỏi các vị sư đó rằng có phải các sư đã đắc tứ thiền, hay tam thiền, hay nhị thiền, hay sơ thiền. Các vị sư đó nói rằng họ không có các định lực như thế.
 

Susima hỏi các vị sư đó rằng vì sao các sư tự biết đã chứng quả A la hán. Các sư nói rằng các sư đã chứng được tuệ giải thoát.
 

Sau đó Susima tới bạch với Đức Phật, được Đức Phật giải thích là: Đúng là các vi sư kia đã chứng quả A la hán nhờ có tuệ giải thoát, họ có hiểu biết về các pháp vận hành trong Duyên khởi, sau là trí tuệ về Niết-bàn.
 

Đức Phật nói rằng trước tiên phải thấy rằng sắc là vô thường. Tức là tất cả những gì được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường đều là vô thường. Vì chúng là vô thường, nên sẽ khổ, chịu sự biến hoại, nên cần phải được quán như chơn như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.”
 

Tương tự, với thọ, tưởng, hành, thức cũng như thế, cần phải được quán như chơn như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
 

Khi người tu thấy như thế, sẽ nhàm chán, và rồi ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát.”
 

Kinh Phật có kể về một cách để thường trực quán như chơn rằng: Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Đức Phật kể về ẩn dụ tiếng đàn. Có một vị vua một hôm nghe tiếng đàn hay chưa từng có, nên yêu cầu các quan đem tiếng đàn tới. Các quan dâng lên vua cây đàn, nói rằng tiếng đàn từ cây đàn, nhưng là xuất phát từ hàng trăm duyên khác nhau, từ dây đàn, gỗ làm cán đàn và thùng đàn, từ người đàn giỏi từng học nhiều năm. Nếu thiếu một duyên, thì không thể có tiếng đàn. Thêm nữa, tiếng đàn chuyển biến từng khoảnh khắc, vừa sinh ra là đã diệt mất, nên không thể nắm giữ lấy tiếng đàn, vì tất cả những cái được nghe đều là vô ngã.
 

Sau khi kể về ẩn dụ tiếng đàn, Đức Phật nói rằng người tu cần phải quán sát sắc, thọ, tưởng, hành và thức không hề có cái gì là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
 

Video dài 4:36 phút:


https://youtu.be/KWv8cMwkMUI 

.
.... o ....


Buddha taught that the continuous recognition of non-self leads to liberation.
 

Tuệ Trung Thượng Sỹ, a prominent Vietnamese Zen master of the 13th century, once stated that to traverse the river of birth and death, one must perceive one’s body and mind as a mud buffalo. When a mud buffalo enters the river, it disintegrates. In other words, one should always view oneself as non-self; this perspective is the key to crossing the river of birth and death. This concept also serves as a fundamental description of the Buddha’s teachings.
 

In the SN 12.70 Sutta and the SA 347 Sutra, the Buddha taught that those who consistently perceive the body and mind as non-self will attain liberation and become Arahants, without the need to develop any complex supernatural powers.
 

These two suttas recount the story of a non-Buddhist named Susima who joined the Buddha's Sangha. Approximately two weeks later, Susima observed many monks approaching the Buddha, reporting that they had achieved Arahantship and fulfilled their spiritual obligations. The Buddha acknowledged that these monks had indeed attained Arahantship and were liberated.
 

Then Susima asked the monks whether they had attained any supernatural powers, passed through walls and mountains, walked on water without sinking as if on land, or sat cross-legged and flown in the air like birds. The monks replied that they possessed no such supernatural abilities.
 

Susima inquired of the monks whether they had achieved divine hearing, the ability to hear from a thousand miles away. The monks replied that they did not possess such supernatural abilities.
 

Susima inquired of the monks whether they had achieved telepathy, the ability to read the minds of other beings and individuals. The monks responded that they did not possess such supernatural powers.
 

Susima asked the monks if they remembered many past lives. The monks replied that they did not possess such supernatural abilities.
 

Susima inquired of the monks whether they had achieved the fourth jhana, the third jhana, the second jhana, or the first jhana. The monks replied that they did not possess such powers of concentration.
 

Susima asked the monks how they knew they had attained Arahantship. The monks replied that they had achieved liberating wisdom.
 

Then Susima went to inform the Buddha, who explained: It is true that those monks attained the fruit of Arhatship through liberating wisdom. First, they gained an understanding of the dharmas involved in Dependent Origination, and subsequently, they acquired wisdom about Nirvana.
 

The Buddha taught that one must first recognize the impermanence of form. In other words, everything that is seen, heard, smelled, tasted, touched, or thought about is transient. Because it is impermanent, it leads to suffering and is subject to change; therefore, it must be contemplated as it truly is: “This is not mine, this I am not, this is not my self.”
 

Similarly, feelings, perceptions, mental formations, and consciousness should be contemplated as they truly are: “This is not mine, this I am not, this is not my self.”
 

When the practitioner observes this, he becomes disinterested and subsequently relinquishes desire. By letting go of desire, he attains liberation. In this state of liberation, wisdom emerges, accompanied by the realization: “I am liberated.”
 

The Buddhist scriptures describe a method for continually contemplating the truth: This is not mine, this I am not, this is not my self.
 

The Buddha once shared the parable of the sound of a lute. One day, a king heard a beautiful melody emanating from a lute and requested his officials to bring him the source of that sound. The officials presented the king with a lute, asserting that the sound originated from the instrument itself. However, the sound was actually the result of numerous factors: the strings, the wood used to craft the lute's body and neck, and the skill of the lute player, who had dedicated many years to mastering the instrument. If any one of these elements were absent, the sound of the lute would not exist. Moreover, the sound of the lute changes with each moment; as soon as it is produced, it fades away, making it impossible to grasp or hold onto the sound.
 

After sharing the metaphor of the lute, the Buddha emphasized that practitioners must recognize that form, feeling, perception, mental formations, and consciousness do not possess anything that can be identified as me, mine, or my self.
 

Video 5:44 minutes long:


https://youtu.be/oLqL8jayaRk
.
Video made by Nguyên Giác

Reference:
SN 12.70 Sutta:
- Thầy Minh Châu: https://suttacentral.net/sn12.70/vi/minh_chau
- Sujato Bhikkhu: https://suttacentral.net/sn12.70/en/sujato
- Bodhi Bhikkhu: https://suttacentral.net/sn12.70/en/bodhi
SA 347 Sutra:
- Thầy Tuệ Sỹ & Thích Đức Thắng: https://suttacentral.net/sa347/vi/tue_sy-thang
SN 35.246 Sutta:
- Thầy Minh Châu: https://suttacentral.net/sn35.246/vi/minh_chau
SA 1169 Sutra:
- Thầy Tuệ Sỹ & Thích Đức Thắng: https://suttacentral.net/sa1169/vi/tue_sy-thang
.



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tết là ngày đặc biệt trong năm. Đây cũng là một trong những cái mốc để ghi nhớ kỷ niệm hay hình ảnh của ngày xưa, và ngẫm lại để thấy công lao và thành tựu của những người đi trước, ngàn năm trước, trăm năm trước. Ngày Xuân nhớ lại, lòng mình sẽ ấm áp. Trong mạch thời gian đó và nhìn lại chính mình, năm nay Việt Báo sẽ nhớ đến một dấu mốc thời gian rất nhỏ mà rất ý nghĩa với anh em tòa soạn và độc giả: Việt Báo tròn 30 tuổi. Nhớ mùa xuân 30 năm trước, một nhóm anh em họp mặt trong một “garage office” ở Garden Grove, với số vốn vỏn vẹn $300 đô-la, nhà báo Trần Dạ Từ quyết định khởi sự tờ Việt Báo. Ban chủ trương sáng lập gồm các nhà báo chuyên nghiệp, lão thành: Cố nhà báo Hồ Văn Đồng, cố nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Cố thi sĩ Nguyên Sa, nhà báo Nguyễn Khắc Nhân, nhà báo Trần Dạ Từ, chủ nhiệm sáng lập Nhã Ca, Nữ Tài Tử Kiều Chinh. 30 năm trước, số báo Việt Báo đầu tiên ra mắt độc giả vào tháng 9 năm 1992. Từ đó đến nay, tờ Việt Báo cũng như các tờ báo Việt Ngữ khác cùng trải qua
Với thời gian, mọi sự thay đổi, con người và cuộc sống cũng xoay vần theo thời cuộc và những cơn lốc lịch sử. Ngày nay, các tiêu chuẩn luân lý và đạo đức ngày xưa thời Khổng, Mạnh đã không còn là chân lý hay lễ nghĩa chuẩn mực mà dân gian nhất nhất phải tuân theo. Dân gian nhìn lại ca dao, tục ngữ với con mắt khác và cảm thấy những gì người xưa khuyên răn chỉ có thể đúng vào cái thời xa lắc xa lơ cũ kỹ đó mà thôi. Người ta bắt đầu sửa và lưu truyền những câu nói hay chế ra những câu thơ mới với nội dung bông đùa, diễu cợt trên chính những câu thơ hay câu nói có tính đạo đức, khuyên răn của người xưa. Nhất là thời kinh tế thị trường, mọi thứ chuẩn mực làm đầu thời trước, giờ chỉ là chiếc áo giấy chẳng có giá trị thực tế nào hết.
Trong 12 con giáp, Hổ là con vật đứng hàng thứ ba sau Chuột và Trâu: mệnh danh là "Dần". Tuổi Dần biểu tượng cho con Hổ hay còn gọi là con "Cọp". Xét về khía cạnh "Tử Vi" thì tuổi Dần đại diện cho những người quyền lực, cho sự mạnh mẽ, năng động trong cuộc sống. Người tuổi Dần thích những công việc mạo hiểm, đem đến vinh quang, thành công rực rỡ cho mình. Ngoài tài lãnh đạo, luôn nhiệt tình giúp đỡ những người xung quanh và nếu xét về khía cạnh nhỏ trong xã hội là gia đình thì người tuổi Dần ra sức bảo vệ gia đình của mình. Năm 2022 là năm Nhâm Dần. Người sinh năm Nhâm Dần 2022 thường là những người giỏi giang, thông minh, có khả năng hoàn thành được nhiều công việc cùng một lúc. Như chung ta biết, Hổ là một con vật được muôn loài nể phục. Trong 12 con giáp con Hổ được xem là một con vật oai hùng. Hổ đại diện cho sức mạnh. Người Tuổi Dần có tướng giỏi giang, khỏe mạnh được ví như “Mình hổ, tay vượn ”. Nơi đất thiêng, có vị thế thịnh phát được gọi là “Hổ ngồi Rồng cuộn ”.
Cho đến thời đại này, chuyện bói vẫn được tôn trọng, không chỉ trong dân gian, mà còn xảy ra sau lưng sân khấu chính trị, kinh tế. Hầu hết các nhà lãnh đạo ở Đông phương đều xem bói, có khi đã tuyển dụng một thầy bói nổi tiếng để hỏi việc thành bại mỗi lần gặp khó khăn và thầy bói đó chỉ đạo thay vì vị lãnh tụ được lòng tin của dân chúng. Ở Tây phương cũng vậy, ngày xưa họ tin dùng các thầy phù thủy; ngày nay họ dùng những kỹ thuật khoa học để dự đón tương lai. Bất kỳ thứ gì, nếu có chữ “đoán” đều thuộc về dòng họ “Bói”. Bói là những hành động và lời lẽ làm cho “mê” và “tin” một cách “tín” nhiệm. Hầu hết những người có học đều xem bói là mê tín, nhưng cái thứ mê tín này ẩn núp tận xương tủy thần kinh, chỉ chờ đúng dịp sẽ xuất hiện. Từ những chuyện quan trọng như đầu tư kinh doanh, xuất quân viễn chinh, quyết định chính trị, cho đến những chuyện vui chơi: Khi vào một đám đông, bạn chỉ cần bắt đầu xem chỉ tay của một người, lập tức, kẻ lạ người quen kéo đến ngồi chung quanh, chờ đến p
Năm Sửu sắp qua,/ Cứ nghĩ mình già,/ Thôi không đi nữa,/Thời buổi đại dịch, / Ai dám đi xa,/ Hàng không, /hỏa xa, /Cancel đủ kiểu/ Bước lên máy bay,/ Nào là hộ chiếu/ Ngóng đợi hụt hơi/ Lại thêm passport / Chích ngừa Cô Vít/ Đủ liều chẳng thiếu/ Lại thêm test mũi / Móc họng nhớt ra/ Tìm Corona / Âm tính mới được./ Lúc về thử trước / Chỉ một hai ngày /Dương tính bịnh lây / Cách ly ở lại.
Pechanga Resort Casino ăn Tết với các giải trúng biếu tặng tổng cộng $100K EasyPlay và Tiền Mặt vào những ngày Thứ Sáu 11 & 18 Tháng Hai. Hội viên sẽ kiếm được vé tham dự các cuộc xổ số những khi kéo máy hay chơi bài bàn trong thời gian 6pm-10pm mỗi ngày để có cơ may trúng những giải lớn. 60 người sẽ được xổ trúng để nhận $250, $500, hay $750 EasyPlay. Vé trúng giải lớn nhất $25,000 của một người vô cùng may mắn sẽ được xổ ra lúc 10pm. Xin hãy tới khám phá sự hào hứng kích thích vì có thể được trúng nhiều lần!
“Tết Nguyên Đán là một ngày lễ quan trọng đối với nhiều khách hàng và nhân viên của chúng tôi tại Yaamava’ Resort and Casino” - ông Peter Arceo, Tổng giám đốc tại Yaamava’ Resort and Casino at San Manuel cho biết. “Để chào đón năm Nhâm Dần, chúng tôi sẽ mang đến những cảnh trang trí Tết đặc sắc trên toàn bộ khuôn viên, cũng như các món ăn theo phong cách Châu Á, chương trình giải trí, thêm vào nhiều cơ hội trúng các giải thưởng và tiền mặt liên tục!” Chương trình mừng Tết Nguyên Đán của Yaamava sẽ bắt đầu với trang trí lễ hội nhằm tôn vinh truyền thống hàng năm của người Châu Á. Xung quanh khu nghỉ dưỡng và sòng bài, quý khách sẽ tìm thấy những cây bonsai trưng bày tượng trưng cho sự hòa hợp và may mắn, cùng các tiểu cảnh hình con hổ cho sự dũng mãnh.
Sau hai năm căng thẳng đại dịch, các buổi triển lãm nghệ thuật và trình diễn âm nhạc bị gián đoạn khiến người ta khao khát được trở lại với không gian thưởng ngoạn “live”. Trường đại học California State Long Beach sẽ mở lại các chương trình văn hóa nghệ thuật, và trân trọng mời khách thưởng ngoạn đến với cuộc triển lãm Sacred Path tạm dịch là “Tâm Hướng” của họa sĩ Nguyễn Việt Hùng, một tên tuổi không xa lạ với cộng đồng người Việt quận Cam.
ÂU CHÂU – Để chống lại biến thể Omicron đang hoành hành, Cơ quan Y Tế Châu Âu đã ‘bật đèn xanh’ cho thuốc điều trị COVID-19 của Pfizer để sử dụng cho người lớn tuổi có nguy cơ bệnh trở nặng, theo trang Reuters đưa tin ngày Thứ Năm, 27 tháng 1 năm 2022.
OTTAWA – Các tài xế xe tải Canada quyết tâm đóng cửa trung tâm Ottawa để phản đối các quy định bắt buộc tiêm vắc xin của chính phủ liên bang, theo trang Reuters đưa tin ngày Thứ Năm, 27 tháng 1 năm 2022.
HOA KỲ – Tổng thống Biden cho biết ông sẽ giữ đúng lời hứa khi tranh cử Tổng thống, là đề cử một phụ nữ gốc da đen vào Tối cao Pháp viện để thay thế vị trí của Thẩm phán Stephen Breyer nghỉ hưu, theo trang APnews đưa tin ngày Thứ Năm, 27 tháng 1 năm 2022.
Với hạn chót cho giai đoạn ghi danh mở đang gần kề vào ngày 31 tháng 1, Covered California thông báo rằng 1,800,000 cư dân California đã ghi danh bảo hiểm tính đến ngày 24 tháng Một, đây là mức cao kỷ lục mới trên thị trường. Tổng số này tăng hơn 350,000 người so với đầu năm 2020, do việc Covered California đã sử dụng hỗ trợ tài chính gia tăng từ Kế Hoạch Cứu Trợ Hoa Kỳ để mở rộng phạm vi bảo hiểm và đáp ứng nhu cầu của những người bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19.
Bài này được viết để tưởng niệm Thiền sư Nhất Hạnh (1926-2022), một vị Thầy lớn của Phật Giáo vừa viên tịch. Chủ đề chính của bài này sẽ bày tỏ lòng biết ơn Thầy Nhất Hạnh bằng cách dẫn ra để suy nghĩ về một bài kệ trong sách “Đạo Bụt Nguyên Chất – Kinh Nghĩa Túc” ấn bản Đạo Tràng Mai Thôn 2011, do Thầy dịch và chú giải, và sẽ đối chiếu tương đương trong Tạng Pali.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.