Hôm nay,  

Tại sao Phật giáo suy giảm ở châu Á?

19/02/202607:38:00(Xem: 710)
blank

Tại sao Phật giáo suy giảm ở châu Á?
 

Tác giả: Akhilesh Pillalamarri

Dịch giả: Nguyên Giác

 

Lời Giới Thiệu: Tạp chí The Diplomat hôm 18/2/2026 có bài viết nhan đề “Why Did Buddhism Decline in Asia?” (Tại sao Phật giáo đã suy giảm ở châu Á?) của Akhilesh Pillalamarri, một nhà văn và là một luật sư chuyên về văn minh, địa chính trị, an ninh và quản trị ở châu Á. Bài viết đưa ra cái nhìn riêng và bao quát của tác giả, không nhất thiết đúng cho một số hoàn cảnh lịch sử cụ thể tại một số quốc gia. Tuy nhiên, các số thống kê được khảo sát và cập nhật chắc chắn sẽ làm cho nhiều Phật tử suy nghĩ kỹ hơn để sẽ tìm cách hoằng pháp thích nghi. Có thể giải pháp nên là Phật giáo Dấn thân (Engaged Buddhism), một khuynh hướng được khởi xướng bởi Thiền sư Thích Nhất Hạnh, là đưa thiền tập và chánh niệm vào cuộc sống thường nhật để giải quyết nỗi khổ niềm đau trong xã hội, thay vì chỉ khép kín tu hành trong thiền viện. Hay là có thể sẽ có nhiều giải pháp nào khác? Tác giả Akhilesh Pillalamarri là một học giả Mỹ gốc Ấn Độ hiện đang viết cho nhiều báo Hoa Kỳ. Tác giả dường như có cái nhìn không chính xác về Phật giáo tại Việt Nam (người dịch xin độc giả tự nhận xét). Bản dịch bài viết như sau.

.... o ....
 

Tại sao Phật giáo đã suy giảm ở châu Á?

Việc thiếu sự hỗ trợ đồng cảm từ các thể chế trong nhiều thế kỷ, đặc biệt là ở cấp độ tinh hoa, có thể giải thích tại sao Phật giáo bước vào thời hiện đại với sức sống tương đối yếu.

Theo dữ liệu gần đây từ Trung tâm Nghiên cứu Pew, Phật giáo là tôn giáo lớn duy nhất trên thế giới suy giảm về số lượng tuyệt đối trong thập niên từ năm 2010 đến năm 2020, từ 343 triệu xuống còn 324 triệu tín đồ. Tỷ lệ tín đồ Phật giáo trong dân số thế giới cũng giảm, từ khoảng 5% xuống còn khoảng 4%. Ngược lại, tính đến năm 2020, Kitô giáo chiếm khoảng 29% dân số thế giới, Hồi giáo 21% và Ấn Độ giáo 15%.

Một thế kỷ trước, nhiều báo cáo cho rằng Phật giáo có nhiều tín đồ hơn bất kỳ tôn giáo nào khác — 500 triệu người, trong tổng dân số toàn cầu là 1,5 tỷ người. Vì Phật giáo từ lâu đã tập trung ở châu Á — nơi 98% Phật tử sinh sống — điều này sẽ ngụ ý một sự thay đổi lớn, ở quy mô gần như chưa từng có, trong đời sống tôn giáo của lục địa này. Phật giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo của khu vực phía đông châu Á trong gần hai thiên niên kỷ.

Một lý do cho những số liệu thống kê khác nhau này liên quan đến cách định nghĩa tín ngưỡng tôn giáo ở châu Á, đặc biệt là Đông Á. Các báo cáo cũ hơn chỉ đơn giản phân loại tất cả mọi người ở các quốc gia như Trung Quốc và Nhật Bản là Phật tử. Ở các quốc gia như Trung Quốc và Nhật Bản, sự pha trộn tôn giáo và ranh giới tôn giáo chồng chéo khiến việc đo lường số lượng Phật tử thực sự trở nên khó khăn, nếu việc đo lường như vậy là thực sự khả thi. Ví dụ, ước tính số lượng Phật tử ở Trung Quốc dao động từ 4% đến 33% dân số — từ 42 triệu đến 362 triệu người — dựa trên các câu hỏi khảo sát. Ví dụ, trong khi chỉ có 4% người Trung Quốc được khảo sát trả lời Phật giáo cho câu hỏi về tín ngưỡng tôn giáo của họ, thì 26% tuyên bố rằng họ thắp hương (nhang) thờ cúng Đức Phật và 33% nói rằng họ tin vào Đức Phật. Tương tự, tỷ lệ người Nhật theo Phật giáo dao động từ 46% đến 70%.

Tại Hồng Kông, Hàn Quốc và Việt Nam, những người tự nhận mình là Phật giáo chiếm lần lượt 14%, 14% và 38% dân số. Bỏ qua phương pháp luận, những số liệu thống kê này cho thấy rằng trong điều kiện hiện đại, tương đối ít người châu Á trong các xã hội có sự hiện diện mạnh mẽ của Phật giáo trong các thể chế chọn theo Phật giáo. Điều này dường như đặc biệt đúng ở những nơi mà Phật giáo Mahayana (Đại thừa) là trường phái Phật giáo chiếm ưu thế, trái ngược với Phật giáo Theravada Bảo thủ chiếm ưu thế ở Đông Nam Á và Sri Lanka.

Mặc dù các phương pháp đo lường Phật giáo ở châu Á khác nhau kể những câu chuyện khác nhau, nhưng điều chắc chắn là nhìn chung, Phật giáo đã suy giảm ở một số quốc gia theo Phật giáo Theravada – như Myanmar, Campuchia và Thái Lan – nơi Phật giáo thực sự phát triển và đã thay thế Phật giáo Mahayana và Ấn Độ giáo trong vài thế kỷ qua.

Sự suy giảm của Phật giáo trên khắp châu Á bắt đầu từ hơn một nghìn năm trước, mặc dù nó khá phổ biến trong thiên niên kỷ đầu tiên của lịch sử, lan rộng khắp châu Á và hoàn toàn làm thay đổi đời sống tôn giáo của nhiều xã hội. Mặc dù sự suy giảm của Phật giáo ở các khu vực khác nhau đều có những lý do riêng, nhưng chúng đều có một yếu tố thống nhất. Giới tinh hoa và các trường phái triết học đối lập ở những nơi xa xôi như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản đều thúc đẩy việc gạt bỏ Phật giáo để ủng hộ các lựa chọn thay thế bản địa. Điều này có thể xảy ra bởi vì Phật giáo, về bản chất, thường không trở thành tôn giáo duy nhất của cả quần chúng và giới tinh hoa trong nhiều xã hội, nơi nhiều trường phái tư tưởng cùng tồn tại song song. Vì Phật giáo không trở thành một tôn giáo duy nhất, nó thường phải cạnh tranh với các trường phái triết học và tôn giáo đối lập do giới tinh hoa địa phương thúc đẩy, và thường phải chịu những thất bại. Ban đầu, những ảnh hưởng này đến từ một số hệ tư tưởng bản địa, như Ấn Độ giáo, Nho giáo và Thần đạo. Sau đó, những thách thức đến từ Hồi giáo — lan rộng thông qua hoạt động thương mại ở quần đảo Mã Lai — và từ phương Tây dưới hình thức Kitô giáo, chủ nghĩa Mác (Marxism) và các hệ tư tưởng khác.

Phật giáo vẫn mạnh mẽ nhất trong các nhóm dân số — thường là các nhóm không có truyền thống văn học hay triết học trước đó — những người đã tiếp nhận nó một cách toàn tâm toàn ý hơn ở cả cấp độ dân chúng và cầm quyền, ngay cả khi các tín ngưỡng dân gian và sự pha trộn tôn giáo vẫn tồn tại. Trong những xã hội như vậy, Phật giáo trở thành một tôn giáo quốc gia định hình tính cách của một dân tộc, và thường gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ viết và văn hóa hàng ngày của xã hội. Ví dụ bao gồm các quốc gia Phật giáo Theravada ở Đông Nam Á và Sri Lanka, và Phật giáo Kim Cương thừa (Vajrayana), hay Mật tông (Tantric), phổ biến ở cao nguyên Tây Tạng. Vào thời trung cổ, Phật giáo cũng trở nên phổ biến trong một số nhóm người ở Nội Á (Inner Asian groups), những người bị thu hút bởi những gì nó mang lại. Theo nhà sử học Frederick W. Mote, điều này bao gồm tính “dễ tiếp cận” của nó — cho phép mọi người “tin tưởng ở bất kỳ mức độ hiểu biết nào mà họ có khả năng” — nguồn gốc không phải của Trung Quốc, hệ tư tưởng rằng những người cai trị có thể trở thành Charkavartin (Chuyển pháp luân vương), và khả năng cung cấp một “thế giới giao lưu liên quốc gia và liên văn hóa vượt qua những đặc thù dân tộc”. Ngay cả ngày nay, Phật giáo vẫn đang thu hút thêm tín đồ trong một số dân tộc Turk và Mông Cổ ở Nội Á (Inner Asia: nằm giữa Đông Á, Bắc Á và Trung Á, không giáp biển), chẳng hạn như ở Cộng hòa Altai thuộc Siberia của Nga.

Tuy nhiên, sự phản kháng đối với Phật giáo đã gia tăng mạnh mẽ ở một số nền văn minh vào đầu thiên niên kỷ thứ nhất. Ở Ấn Độ, khi Phật giáo được hòa nhập vào Ấn Độ giáo ở cấp độ dân chúng, các Bà La Môn đã bảo vệ truyền thống Vệ Đà và dharma (chính pháp, hiểu theo Ấn Độ Giáo). Những người ủng hộ dharma đã phát triển sáu trường phái astika (chính thống) của Ấn Độ giáo, những trường phái này đã thành công trong việc phản bác Phật giáo về một số vấn đề, chẳng hạn như khẳng định rằng con người có một bản ngã vĩnh hằng tiềm ẩn và, trong nhiều trường hợp, ủng hộ ý tưởng rằng thế giới là có thực khách quan và có thể được hiểu một cách thực nghiệm. Bị phản bác về mặt triết học, và không có sự bảo trợ của các thể chế hoặc một cơ sở dân cư lớn để hỗ trợ tăng đoàn (cộng đồng tăng ni), Phật giáo đã suy giảm ở Ấn Độ. Xu hướng này càng trầm trọng hơn do cuộc chinh phạt Bắc Ấn Độ của người Hồi giáo Turk vào đầu thế kỷ 13 và sự phá hủy một số trung tâm Phật giáo. Các vùng miền và cộng đồng ở tiểu lục địa nghiêng về Phật giáo có xu hướng bị cải đạo sang Hồi giáo với số lượng lớn hơn so với người theo đạo Hindu, có lẽ vì cả Phật giáo và Hồi giáo đều phổ biến nhất trong một số ngành nghề nhất định, chẳng hạn như thương mại, và có lẽ vì Phật giáo dễ bị suy yếu nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước.

Phật giáo cũng suy giảm ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, mặc dù nó không biến mất hoàn toàn. Sự thiếu thiện cảm từ các thể chế trong suốt nhiều thế kỷ, đặc biệt là ở cấp cao, có thể giải thích tại sao nó bước vào thời hiện đại với sức sống tương đối yếu.

Nhà nước Trung Quốc và tầng lớp học giả Nho giáo chưa bao giờ hoàn toàn chấp nhận Phật giáo. Năm 845 sau Công nguyên, Hoàng đế Võ Tông nhà Đường đã phát động cuộc đàn áp Phật giáo quy mô lớn — nhắm vào cả các tôn giáo “ngoại lai” khác — một phần vì nhà nước Trung Quốc cảm thấy rằng quá nhiều của cải đang được tích lũy trong các tu viện và quá nhiều người rời bỏ xã hội để sống đời tu hành. Đây là một luận điểm chỉ trích dai dẳng đối với Phật giáo ở Trung Quốc, một luận điểm được phát triển hơn nữa thông qua triết lý Tân Nho giáo (Neo-Confucianist philosophy) của triều đại nhà Tống (960-1279 sau Công nguyên). Các nhà tư tưởng Nho giáo “nhấn mạnh lòng hiếu thảo, điều mà họ chỉ ra rằng các nhà sư Phật giáo đã vi phạm bằng việc tu hạnh độc thân.”

Giống như Ấn Độ giáo ở Ấn Độ, Tân Nho giáo ở Trung Quốc tìm cách khôi phục xã hội về các tập tục nghi lễ cổ xưa và duy trì đạo đức truyền thống. Theo hướng Trung Quốc hơn, nó tìm cách nhấn mạnh các ý tưởng xã hội và chính trị thực tiễn hơn là siêu hình học. Các nhà tư tưởng Nho giáo lý luận:

… nhấn mạnh sự kính trọng đối với các nhà lãnh đạo gia đình và cộng đồng, do đó bỏ qua các nhân vật có thẩm quyền trong Phật giáo. Các nhà tư tưởng Nho giáo cũng bắt đầu đặt trọng tâm lớn vào ý tưởng về lòng trung thành với triều đình quân chủ… vào thời Tống, đã có những nỗ lực biến lòng trung thành đó thành một đức tính Nho giáo tối thượng. Vào thời Bắc Tống, có những dấu hiệu cho thấy tinh thần thế tục của Tân Nho giáo đã giành được một số thắng lợi quan trọng. Sự quan tâm của giới học giả đối với kinh điển và giáo lý Phật giáo chắc chắn đã suy giảm khi sức sống học thuật của thời đại gần như chuyển hoàn toàn sang nghiên cứu, biên tập và bình luận các tác phẩm Nho giáo… năng lượng trí tuệ có ý thức của thời đại hầu như được dành riêng cho các khía cạnh thế tục của truyền thống văn hóa Trung Quốc, và đặc biệt là các yếu tố Nho giáo đặc thù của nó. Đồng thời, chất lượng của tăng đoàn Phật giáo cũng suy giảm….”

Nho giáo vẫn là triết lý thống trị ở Trung Quốc cho đến cuối thời kỳ đế chế vào thế kỷ 20. Giới tinh hoa chính trị Trung Quốc nhìn chung dung túng Phật giáo, đồng thời cũng coi thường nó, một số người cho rằng đó là "triết lý ích kỷ" trái ngược với trách nhiệm đạo đức của Nho giáo. Không nơi nào thể hiện rõ nét điều này như ở Hàn Quốc trong thời Joseon (1392-1910), nơi Phật giáo bị gạt sang một bên bởi sự nâng cao vị thế của Tân Nho giáo. Ở Hàn Quốc, nhà nước yêu cầu tất cả các nhà sư phải đăng ký và đặt ra "giới hạn nghiêm ngặt về số lượng tăng lữ đăng ký và phí đăng ký thu được". Họ tìm cách tách biệt người dân khỏi Phật giáo bằng cách "giới hạn các nghi lễ của nó trong các tu viện trên núi".

Ở Nhật Bản, mặc dù ở mức độ ít hơn, giới tinh hoa cũng chống lại Phật giáo để ủng hộ tín ngưỡng địa phương. Trong trường hợp của Nhật Bản, đó là tín ngưỡng Thần đạo bản địa. Trong thời kỳ Edo (1603-1868), phong trào Kokugaku (học thuật quốc gia) nhấn mạnh văn hóa Nhật Bản bản địa hơn các ý tưởng nước ngoài. Với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc hiện đại sau cuộc Minh Trị Duy Tân năm 1868, chính phủ hiện đại hóa của Nhật Bản đã nâng Thần đạo lên thành quốc giáo và tách biệt rõ ràng Phật giáo và Thần đạo — một quá trình được gọi là shinbutsu bunri. Trước đây, Phật giáo và Thần đạo được dung hợp và cùng một công trình thường được sử dụng làm cả chùa Phật giáo và đền thờ Thần đạo. Sau đó, công dân Nhật Bản được yêu cầu đăng ký tại các đền thờ Thần đạo. Thần đạo quốc giáo không phổ biến rộng rãi và đã chấm dứt sau Thế chiến II. Phật giáo ngày nay tương đối nổi bật và có ảnh hưởng hơn ở Nhật Bản so với các nước láng giềng Hàn Quốc hay Trung Quốc.

Do thái độ mơ hồ trong lịch sử của Đông Á đối với Phật giáo, Phật giáo không được coi là yếu tố nội tại của bản sắc dân tộc như Ấn Độ giáo và Hồi giáo ở các khu vực khác trên thế giới. Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản bước vào thế kỷ 20 với các thể chế Phật giáo suy yếu và nhiều trường phái tư tưởng chính trị và tôn giáo hoạt động mạnh mẽ. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi tỷ lệ người theo Phật giáo ở nhiều quốc gia Đông Á tương đối thấp và đang giảm dần khi các hệ tư tưởng khác — bao gồm cả chủ nghĩa vô thần do nhà nước tài trợ — và chủ nghĩa vô thần trở nên nổi bật hơn. Với sự trỗi dậy của các đảng Cộng sản — thường có lập trường mơ hồ, thậm chí thù địch với tôn giáo — ở Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam, càng ít có động lực để chính thức theo Phật giáo, bởi Phật giáo hoặc là một tôn giáo truyền thống đã ăn sâu vào văn hóa của hầu hết mọi người, hoặc là tôn giáo dành riêng cho những tín đồ chân chính.

Đối với những người muốn theo một tôn giáo nào đó — đặc biệt là ở Trung Quốc và Hàn Quốc — Kitô giáo đã trở nên nổi bật trong thế kỷ qua. Đối với nhiều người, Kitô giáo đại diện cho sự mới mẻ và năng động. Những nhân vật nổi bật như Tôn Trung Sơn, người sáng lập ra nước Trung Hoa hiện đại, và Tưởng Giới Thạch, nhà lãnh đạo quốc gia lâu năm của Trung Hoa Dân Quốc, đều là tín đồ Kitô giáo. Kể từ khi Trung Quốc mở cửa với thế giới sau cái chết của Mao Trạch Đông, các nhà phân tích đã ghi nhận sự gia tăng đáng kể niềm tin Kitô giáo ở đó, một số người cho rằng Trung Quốc có thể sớm có số lượng tín đồ Kitô giáo lớn nhất thế giới, mặc dù không rõ điều này có thực sự xảy ra hay không. Dữ liệu chính xác rất khó tìm, nhưng theo Pew, 7% người trưởng thành ở Trung Quốc tin vào Chúa Giê-su Kitô. Ước tính số lượng tín đồ Kitô giáo ở Trung Quốc dao động từ 44 triệu đến 130 triệu, phản ánh số lượng lớn những người theo đạo nhưng không đăng ký. Lý do cho sự phát triển của Kitô giáo ở Trung Quốc bao gồm sức hấp dẫn của nó đối với cộng đồng, tình huynh đệ, hệ thống đạo đức, cấu trúc tổ chức và tính chất quốc tế; thêm vào đó, Cách mạng Văn hóa (1966-1976) đã làm suy yếu quyền lực của Phật giáo và Đạo giáo (Daoism: còn gọi là Lão giáo).

Ở Hàn Quốc, Kitô giáo cũng phát triển nhanh chóng kể từ sau Thế chiến II. Nhiều người Hàn Quốc coi Kitô giáo là biểu tượng của chủ nghĩa dân tộc Hàn Quốc, đối lập với Phật giáo và Thần đạo của chế độ thuộc địa Nhật Bản. Chính phủ Hàn Quốc thời hậu chiến đã nỗ lực hết sức để xóa bỏ tín ngưỡng pháp sư bản địa (shamanistic beliefs) của người Hàn Quốc, thường xuyên phá hủy các đền thờ. Với việc Phật giáo đã bị gạt sang một bên bởi triều đại Joseon, Kitô giáo đã lấp đầy khoảng trống đó. Các tín đồ Kitô giáo — đặc biệt là Tin Lành — “được nhìn nhận rộng rãi ở miền nam [Hàn Quốc] như những đại diện cho một đức tin vừa mạnh mẽ vừa hiện đại, nếu không muốn nói là đồng nghĩa với Mỹ là quốc gia dẫn đầu sự tiến bộ của nhân loại…”. Kitô giáo đã có sự tăng trưởng nhanh chóng ở Hàn Quốc: ngày nay, nó là tôn giáo lớn nhất ở đó, chiếm 31% dân số.

Lịch sử Phật giáo trong thiên niên kỷ qua và các xu hướng đương đại gần đây giải thích tại sao Phật giáo – tôn giáo duy nhất trong số các tôn giáo lớn trên thế giới – lại suy giảm, cả về số lượng tín đồ tuyệt đối và về tỷ lệ phần trăm dân số thế giới tương đối. Trong khi Phật giáo mạnh hơn ở các quốc gia Đông Nam Á và vùng Himalaya, nơi đa số theo Phật giáo Theravada, thì sự suy giảm của Phật giáo đặc biệt đáng chú ý ở Đông Á, nơi Phật giáo từ lâu đã cạnh tranh với các hệ thống tôn giáo khác và chịu sự thờ ơ, thậm chí là thù địch của nhà nước. Chủ nghĩa hiện đại càng làm giảm sức sống bền bỉ của Phật giáo. Theo nhiều truyền thống, chính Đức Phật đã tiên đoán rằng Phật pháp sẽ bước vào thời kỳ suy thoái – vì vạn vật đều vô thường – với ngày càng ít chúng sinh đạt được Giác ngộ. Nhưng một vị Phật khác sẽ đến vào một ngày nào đó để phục hưng Phật pháp. Thời gian sẽ tiết lộ sự thật về những điều đó.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Một ngày vào năm 1674, tại thành phố Dutch của Delch, Anton van Leewenhoek lấy một ít bựa ở khe răng và nhìn qua kính hiển vi mà ông ta mới chế. “Tôi đã nhìn thấy, với nhiều ngạc nhiên…rất nhiều vi sinh vật, nhỏ li ti đang di chuyển.”Đó là vi khuẩn và Leewenhoek là người đầu tiên nhìn thấy chúng, mặc dù ông ta không biết rằng một số những vi sinh vật đó có thể gây ra bệnh. Khi ông ta báo tin này cho hội Royal Society of England, một tổ chức các khoa học gia, một số hội viên lúc đầu không tin ở ông. Nhưng sau đó Hội đề cử ông làm hội viên. Các nghiên cứu về sau này của ông đã khiến ông trở thành nổi tiếng và ông được Nữ Hoàng Anh và Vua nước Nga viếng thăm
Tình hình đại dịch vi khuẩn corona trong tuần qua trở nên bi quan và u ám khi Brazil, Hoa Kỳ và Trung Quốc gia tăng số người bị nhiễm bệnh và tử vong lên tới mức báo động. Thậm chí Bác Sĩ Anthony Fauci là thành viên của nhóm chống vi khuẩn của Bạch Ốc đã cảnh báo Mỹ có thể sẽ chứng kiến 100,000 người bị bệnh mỗi ngày. Trong lúc đó chuyện Quốc Hội CSTQ đã thông qua luật an ninh quốc gia Hong Kong và Putin thưởng tiền cho Taliban giết lính Mỹ và Anh tại Afghanistan cũng làm dư luận chú ý.
Vào ngày Lễ Độc Lập, hầu hết chúng ta đều tụ họp bạn bè tại bãi biển hay hồ tắm, năm nay chúng ta ăn mừng có khác chút đỉnh.Đại dịch vi khuẩn corona đã lan truyền khắp nơi, và số người bị truyền nhiễm tăng nhanh như hỏa tiễn với 3 tiểu bang đông dân nhất đang đạt kỷ lục số trường hợp mới bị lây hàng ngày. Trong khi điều này không cần thiết phải bãi bỏ các kế hoạch của bạn cho ngày lễ, có nhiều bước bạn có thể làm để giữ mình và người khác được khỏe mạnh trong mùa lễ này.
Người phụ nữ da trắng được ghi hình chĩa súng vào một phụ nữ da đen và ngưởi con gái 15 tuổi của bà này tại bãi đậu xe của tiệm Chipotle tại Michigan đã bị truy tố trọng tội tấn công, trong tội 4 năm tù. Video của vụ đối đầu tại thành phố Orion Township tiểu bang Michigan, đã được đăng lên Facebook vào tối Thứ Tư, 1 tháng 7. Người chồng của người phụ nữ da trắng này cũng đã bị truy tố trọng tội tấn công. The Detroit Free Press đã xác nhận cặp vợ chồng này Jillian Wuestenberg, 32 tuổi, và Eric Wuestenberg, 42 tuổi. Takelia Hill kể cho báo Detroit News rằng cuộc đối đầu bắt đầu khi Wuestenberg va chạm cô con gái 15 tuổi của mình, Makayla Green. Green và Hill yêu cầu lời xin lỗi, và bắt đầu gọi Wuestenberg là "không biết gì" và "kỳ thị chủng tộc". Khi Wuestenberg đi bộ tới xe cô, chồng cô, đã ra khỏi xe hơi và nói với Hill và Green rằng, “Các người nghĩ các người là ai?”
Đại dịch vi khuẩn tại Hoa Kỳ đã không được điều hướng theo chiều hướng tích cực, nhưng nó có thể quân bình việc khao khát tái mở cửa với các đề phòng có thể giúp làm giảm sự lây lan của vi khuẩn corona, theo Bác Sĩ Anthony Fauci, giám đốc Viện Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm Quốc Gia, cho biết trong cuộc phỏng vấn với JAMA hôm Thứ Năm, 2 tháng 7 năm 2020. 34,634 trường hợp mới bị lây Covid-19 và 419 người thiệt mạng được báo cáo hôm Thứ Năm. Tất cả các trường hợp là từ 50 tiểu bang, Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn và các lãnh thổ của Mỹ. Có ít nhất 2,721,961 trường hợp bị lây vi khuẩn corona tại Hoa Kỳ kể từ lúc bắt đầu đại dịch đến nay, theo dữ liệu của Đại Học Johns Hopkins cho biết, và ít nhất 128,496 người thiệt mạng.
NEWPORT BEACH, Calif. – Chấm dứt nhiều ngày suy đoán, các viên chức hôm Thứ Năm, 2 tháng 7 năm 2020 đã tuyên bố rằng tất cả các bãi biển được điều hành bởi Quận Cam sẽ bị đóng suốt cuối tuần Lễ Độc Lập, theo bản tin của Đài KABC cho biết hôm Thứ Năm. Tổng Giám Đốc Quận Frank Kim và Giám Sát Viên Lisa Bartlett đã xác nhận việc đóng cửa đã lên kế hoạch, gồm các bãi đậu xe ở bãi biển vào Thứ Bảy và Chủ Nhật, ngày 4 và 5 tháng 7. Các bãi biển bị ảnh hưởng gồm: Aliso, Capistrano, Salt Creek, Baby Beach, Bayside, Camel Point, Poche, Strands, Table Rock, Thousand Steps, Treasure Island và West Street.
New York – Tỉ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ đã giảm xuống còn 11.1% khi nền kinh tế có thêm 4.8 triệu việc làm trong tháng 6 là cao kỷ lục, theo Phòng Phân Tích Lao Động cho biết hôm Thứ Năm, 2 tháng 7 năm 2020, theo CNN Business cho biết. Dữ liệu nói trên là tốt hơn nhiều so với các nhà kinh tế tiên đoán, và tỉ lệ thất nghiệp cũng giảm hơn mức dự đoán. Đây là tháng thứ 2 liên tiếp gia tăng sau khi hơn 20 triệu việc làm bị xóa sạch trong tháng 4 trong lúc phong tỏa vì đại dịch. Việc tái mở cửa nền kinh tế đang giảm gánh nặng lên thị trường lao động căng thẳng của Mỹ. Nhưng sau 2 tháng gia tăng mạnh, nền kinh tế Mỹ vẫn còn mất 14.7 triệu việc làm kể từ tháng 2. Dù tỉ lệ thất nghiệp đã giảm từ 14.7% trong tháng 4, nó vẫn còn cao hơn bất cứ thời điểm nào trong thời kỳ Đại Suy Thoái.
Các nỗ lực để ngăn chận Đảng Cộng Sản cai trị TQ không áp đặt thêm uy quyền lên Hong Kong đã không có hiệu quả. Giờ đây TQ đã đưa ra luật an ninh quốc gia mới cho lãnh thổ này, các cường quốc thế giới đang tìm cách trừng phạt Bắc Kinh. Cựu thực dân của Hong Kong là Anh Quốc, đang dọn đường cho hơn 3 triệu người Hong Kong có thể định cư tại Anh và xin nhập tịch. Úc đang xem xét việc cung cấp thiên đường an toàn cho cư dân Hong Kong. Và Đài Loan đã mở cửa văn phòng mới để giúp người Hong Kong chạy trốn. Tại Thủ Đô Washington, Quốc Hội đã đệ trình dự luật trong tuần này để nới lỏng cho người Hong Kong được xếp hạng tị nạn và được phép vào Hoa Kỳ.
Đài truyền thông Đức „Deutsche Welle“ („Làn sóng Đức“) ngày hôm nay 02.07.2020 loan tin nhà nước Cộng sản Vietnam gia tăng đàn áp những người đối kháng, tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ. Trước thềm đại hội của đảng Cộng sản Việt Nam, công an bắt giữ và đàn áp các nhà phê bình và bất đồng chính kiến. Đức và Liên minh Âu châu (EU) có khả năng gây áp lực Việt Nam trong khuôn khổ hiệp định thương mại tự do giữa Âu Châu và Việt Nam. Phóng viên Rodio Ebbighausen đặc biệt chú trọng đến số phận của luật gia Nguyễn Bắc Truyển và đã tiếp súc với vợ ông, bà Bùi Thị Kim Phượng. Mới đây bà được thăm chồng bà tai trại tù An Diệm, Quảng Nam. Bà kể cho phóng viên Đức, bà rất lo lắng cho sức khỏe của chồng, ông Truyển bị đau tim, đau dạ dầy, không được chữa trị dù có làm đợn xin. Ông còn bị giam biệt lập.
Sở cảnh sát Garden Grove nhắc nhở cộng đồng để có được ngày lễ July 4 an toàn, trong dịp lễ này, chỉ có thể đốt pháo bông vào ngày Thứ Bảy, 4 tháng Bảy, từ 10:00 giờ sáng đến 10:00 giờ tối và có ký hiệu 'California State Fire Marshal.'
Theo các hãng thông tấn và truyền hình lớn của Hoa Kỳ, vào ngày 27/6/2020, Đảng Dân Chủ Quận Hạt Orange đã thông qua nghị quyết khẩn cấp yêu cầu Ban Giám Sát Quận Hạt đổi tên Phi Trường John Wayne (tài tử đóng phim cao-bồi Miền Tây) vì ông này theo chủ nghĩa Da Trắng Là Thượng Đẳng và những tuyên bố mù quáng (bigot). Sự kiện gây ngạc nhiên cho không ít người. Bởi vì đối với các kịch sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ, văn-thi-sĩ, họa sĩ, nhất là các tài tử điện ảnh…họ đều có cuộc sống cởi mở, đôi khi phóng túng, buông thả và ít liên hệ tới chính trị. Và nếu có bộc lộ khuynh hướng chính trị thì thường là cấp tiến (Liberal). Vậy tại sao John Wayne lại “dính” vào một vụ tai tiếng như thế này?
Hơn 10 năm trước, chính xác là vào hôm 28 tháng 6 năm 2009, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có tâm sự (đôi điều) nghe hơi buồn bã: “Khi tiếp xúc với những người nông dân, tôi thường xuyên hỏi về tổng thu nhập mỗi tháng của một khẩu trong một gia đình họ là bao nhiêu. Dù rằng tôi biết họ đang sống một cuộc sống vô cùng vất vả nhưng tôi vẫn kinh ngạc khi nghe một con số cụ thể: ‘Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng.’ Bạn có choáng váng khi mỗi tháng, một người trong mỗi gia đình nông dân chỉ có 40.000 đồng để chi tiêu tất cả những gì họ cần không?
Cổ nhân thường nói: “bệnh tòng khẩu nhập, họa tòng khẩu xuất”. Thật vậy, ăn uống bừa bãi, không hạp vệ sinh sẽ dẫn đến bệnh tật đủ thứ, đôi khi cũng bỏ mạng như chơi. Còn ăn nói cẩu thả, điêu ngoa, thêu dệt, chê bai người nầy, kích bác người khác thì cũng có thể, một ngày nào đó sẽ chuốc lấy họa vào thân mà thôi!
Các chỉ huy Taliban đã xác nhận rằng Nga đã cung cấp tiền và ủng hộ vật chất để các thành viên của họ trao đổi bằng cách tấn công các căn cứ Hoa Kỳ tại Afghanistan, theo bản tin của Business Insider cho biết hôm 1 tháng 7 năm 2020. Điều này đã được báo The New York Times tường trình trước tiên hôm Thứ Sáu tuần rồi, mà đã trích thuật tin từ các viên chức tình báo Hoa Kỳ. Tổng Thống Donald Trump từ đó đã mạnh mẽ bác bỏ rằng ông đã được báo cáo về tin tình báo này và ông đã tấn công vào sự khả tín của nó, mô tả việc Nga thưởng tiền là giả mạo. Nhưng 3 nguồn tin Taliban khác nhau đã nói với Insider là họ đã biết về việc Nga thưởng tiền.
Tổng Thống Nga Vladimir Putin đã chiến thắng trong đợt cá cược của ông để tiếp tục nắm quyền cho đến giữa thập niên tới, khi người Nga đã bỏ phiếu áp đảo để chứng thực hiện trạng chính trị của quốc gia, theo các kết quả sơ khởi cho thấy, theo CNN cho hay hôm 1 tháng 7 năm 2020. Người Nga đi bầu hôm Thứ Tư để bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc về các tu chính hiến pháp. Cuộc bỏ phiếu dọn đường cho Putin, người đã cai trị 2 thập niên, vẫn sẽ làm tổng thống tới năm 2036.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.