Hôm nay,  

Kim Vũ Và Thế Giới Thơ Văn Triết Hoạ

13/03/202619:52:00(Xem: 142)

KIM VŨ VÀ THẾ GIỚI THƠ VĂN TRIẾT HOẠ
 

Kim Vũ
  

(Lời giới thiệu của Phan Tấn Hải: Kim Vũ là một nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu đã có hơn 20 tác phầm bằng tiếng Anh, tiếng Việt. Ông nguyên là kiến trúc sư, rồi thông dịch viên, và cũng từng là một ứng cử viên [thất bại] cho một ghế thị trưởng ở California. Tập thơ tiếng Anh Revelation của Kim Vu vừa được nhà Vanguard Press ấn hành. Bạn có thể đặt mua ở đây:
https://pegasuspublishers.com/books/poetry/revelation 
Hoặc liên lạc trực tiếp tới nhà thơ Kim Vũ: [email protected].
Trong cương vị một nhà báo có cơ duyên quan sát các sinh hoạt văn nghệ của công đồng nhiều thập niên, tôi luôn luôn kinh ngạc về những tác phẩm đầy khám phá của nhà thơ Kim Vũ, Như dường Kim Vũ luôn luôn bước tới được những chân trời mới để sáng tác. Xin trân trọng giới thiệu. Sau đây là bài tự thuật của Kim Vũ.)
  
blank

Hình: nhà thơ Kim Vũ (phải), nhà báo Phan Tấn Hải (trái) một ngày đầu tháng 3/2026.
 

.... o ....

KIM VŨ VÀ THẾ GIỚI THƠ VĂN TRIẾT HOẠ
 

Kim Vũ


Tôi bắt đầu học đệ Thất Trung học tại Hà Nội năm 1952. Năm đệ Lục, có ông thầy dạy Pháp văn (thầy Hưng) rất thích thơ, có dịp dạy thế vài giờ cho một thầy khác, đã giới thiệu những bài thơ nổi tiếng thời tiền chiến, trong đó có một trích đoạn thơ Huy Cận mà tôi còn nhớ đến bây giờ:
 

Âm dương chưa hề mệt
Bên đường hoa nở tươi
Biển vang triều chảy liệt
Sóng rủ nhau đi bát ngát cười.
 

Theo cha mẹ vào Nam năm 1954, học tiếp tại trường Nguyễn Trãi cho đến khi chuyển qua trường Chu văn An năm học đệ Tam, tuy chọn ban B chuyên Toán, tôi vẫn thích văn thơ và theo dõi sát những sinh hoạt của nhóm Sáng Tạo do Mai Thảo chủ trương. Một giọng thơ mới nổi lên rất lạ là Thanh Tâm Tuyền, được ca tụng như một hiện tượng, nhưng cũng bị nhiều người chê bai. Có một đoạn thơ phá thể so với giọng thơ tiền chiến mà tôi rất thích với mấy câu như sau:

Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống dòng sông
Mà lòng mình phơi trên kè đá
Con thuyền xuôi
Trời không xanh không trắng không hồng
Những ống khói tầu mệt lả.

Được tắm gội trong một nền giáo dục dân tộc, nhân bản và khai phóng bắt đầu do Bộ Trưởng Giáo Dục Hoàng Xuân Hãn trong nội các Trần Trọng Kim được vua Bảo Đại thành lập vào tháng 3 năm 1945, tôi trân trọng và yêu mến nền văn học đích thực của dân tộc, tuy không chọn ban A chuyên về văn chương, nhưng cũng vẫn tìm đọc và thưởng thức những bài thơ hay. Lúc đó có Nguyên Sa nổi lên với tập thơ tình mà bọn trẻ chúng tôi rất thích, với những bài như “Áo Lụa Hà Đông”, “Paris có gì lạ không Em”, “Nga” ‘buồn như con chó ốm’… và đặc biệt Phạm Duy phổ mấy bài thơ tình của Cung Trầm Tưởng kể chuyện tình yêu với mấy cô gái Pháp ‘tóc vàng sợi nhỏ’, đem đến không khí Paris diễm lệ gây cho chúng tôi những cảm hứng đặc biệt và ước vọng đi du học nước ngoài.

Được học bổng USAID qua Hoa Kỳ theo học ngành Kiến Trúc trong 5 năm, tôi lại tìm thấy cơ hội mới đi sâu vào nền triết học phương Tây sau khi đọc cuốn “The Story of Philosophy” của Will Durant.

Về lại Việt Nam năm 1964, theo thời thượng, tôi đọc Sartre “Buồn Nôn”, “Những Bàn Tay Bẩn”, Camus với “La Peste”, “La Chute”, “l’Étranger”, “L’homme Révolté” vv. Tôi cũng lại có dịp đến với văn chương Việt qua “Khu Rừng Lau”, bộ trường thiên tiểu thuyết của Doãn Quốc Sỹ, kể về thời kỳ chiến tranh Việt Pháp, cảnh tản cư, rồi di cư vào Nam trong giai đoạn chia đôi đất nước. Tôi đặc biệt xúc dộng và thâm cảm một đoạn văn nơi cuối cuốn thứ hai gọi là “Người Đàn Bà bên kia Vỹ Tuyến”, tả mối tình đẹp đến não nùng giữa Vân và Kha trong không khí chia ly vì thời cuộc. Trong lòng tôi khơi dậy một tình yêu văn chương sâu đậm, được thể hiện trong bút ký ngắn có tên là “Bảy Bức Thư từ Quân Trường Đồng Đế”, viết trong lúc được huấn luyện quân sự tại Nha Trang sau biến cố Mậu Thân năm 1968.

Một hôm gần Tết ta khoảng năm 1970, tôi đột hứng làm bài thơ như sau:
 
CHÚC TẾT

Đừng chúc tôi
năm mới
bạc lắm tiền nhiều
thành công thắng lợi
có người yêu
đời tươi như mai vàng trong nắng mới.

Cũng đừng chúc tôi
mọi điều như niềm mong đợi
vì tôi nào biết lòng tôi
bơ vơ giữa muôn ngàn vồn vập gọi mời.

Hãy chúc tôi
sống gập đời người
trong vui buồn mừng giận gặp dời
đau thương hoà hạnh phúc
nước mắt hợp nụ cười
để thấy rằng cuộc đời
ngọt ngào
êm ái
ngút ngời
và ôi sâu thăm thẳm.

Năm 1972, tôi được sở cho đi tu nghiệp về ngành “Hoạch Định Phát Triển Vùng” (Regional Development Planning) tại Institute of Social Studies nơi thủ đô Den Haag (The Hague tiếng Anh, La Haye tiếng Pháp) của Hoà Lan. Một hôm đi qua một tiệm sách, tôi thấy có bầy bán một cuốn sách in khổ lớn rất mỹ thuật có tên là “Tao Teh Ching”, tôi mua về, và sau đó mới khám phá ra đó chính là bản dịch Anh ngữ của “Đạo Đức Kinh” do Lão Tử để lại.

Sau 1975, tôi kẹt lại ở Việt Nam 16 năm, đã trải qua một thời kỳ khủng hoảng tinh thần khá nghiêm trọng, và do đó có duyên may hiếm có dẫn đến Phật pháp, được giải toả hoàn toàn bế tắc tinh thần, và từ đó mải mê tìm hiểu thêm về nền minh triết “không thể nghĩ bàn” mà Phật Thích Ca đã truyền lại cho nhân gian. Đồng thời, tôi cũng có cơ hội hồi tưởng những kinh nghiệm trong cuộc sống của mình cho đến thời điểm đó, và bắt đầu ngồi xuống viết một loạt những truyện khá ngắn trong một thể loại mới mà tôi chế ra gọi là “truyện mini”, cô đọng hơn rất nhiều so với loại truyện ngắn thông thường, nghĩa là có rất ít tình tiết, chỉ là thoáng một giây phút nào đó đã trôi qua làm cho mình hồi tưởng chuyện xưa và ghi lại suy ngẫm về cuộc đời. Tôi viết được cũng khoảng bốn mươi truyện như thế.

Cuối cùng được em trai bảo lãnh qua Hoa Kỳ năm 1991, tôi lại có dịp đi vào thế giới hội hoạ mà tôi yêu thích từ thuở nhỏ khi thực hiện những bức tranh trong một thể loại chưa từng có mà tôi chế ra, gọi là “Zen Tantric”, cho thấy nét đẹp nghệ thuật nơi động tác tự nhiên nhất và đắm say nhất trong sự biểu hiện tình cảm lứa đôi, làm nổi bật cái mơ hồ gợi cảm và óc tưởng tượng thay vì quá hiện thực đến dung tục, có thể thấy khi đi vào chi tiết đời thường, làm mất hẳn tính cách lung linh của nghệ thuật “Strip tease”.

Rồi đến năm 1996, gặp lại người bạn cũ thuở xưa trong một chuyến du lịch dài ngày qua nhiều phong cảnh tại Âu châu, tôi tràn đầy cảm hứng và viết được nhiều bài thơ tiếng Anh trong liên khúc “European Suite 1996”, và cùng một số bài thơ khác về nhiều đề tài và lãnh vực khác nhau, tôi hoàn tất tập thơ “REVELATION”, gửi đi rất nhiều nơi để thử thời vận nhưng không đưa đến kết quả nào. Đồng thời, tình cảm đến cùng người bạn cũ đã đem lại cho tôi hứng thú vô bờ, và vào tuổi xấp xỉ lục tuần, tôi lại hồi tưởng chuyện xưa, quay về những phác thảo và hoàn thành nhiều bài thơ lãng mạn “cực kỳ” làm chính tôi cũng phải ngạc nhiên. Đồng thời, tôi cũng bắt đầu công việc phiên dịch ra Anh ngữ những tác phẩm thơ Việt mà tôi yêu thích qua các thời đại, với ước vọng giới thiệu đến độc giả nói tiếng Anh ở phương Tây cũng như các thế hệ trẻ Việt Nam sinh ra và lớn lên trên toàn thế giới muốn tìm hiểu về những tinh hoa của nền văn hoá Việt. Cũng do sự khuyến khích của “bà xã” mà từ năm 2001, tôi lần lượt tự xuất bản mỗi năm ít nhất là một tác phẩm về văn, thơ, dịch, và triết qua lăng kính Phật giáo.

Khoảng năm 2002, tôi liên lạc với BookBaby phát hành tập thơ “Flora” trên internet nhưng không vừa lòng với cách thực hiện của nhà xuất bản On Line này.

Rồi vào năm 2010, tôi bước vào thể loại “du ký” với “Những Năm Tháng Tuyệt Vời”, kể lại những cuộc viễn du tới nhiều nơi trên thế giới cùng “bà xã”.

Trong giai đoạn sau 2010, tôi lại có dịp đi vào một lãnh vực tìm hiểu mới nữa, đó là Vật Lý Lượng Tử, bắt đầu từ Max Planck, và kết thúc với “Hạt Sáng Thế” (the God Particle) với Peter Higgs của Đại Học Edinburgh thuộc Scotland bên Anh.

Năm 2015, tôi thực hiện một tác phẩm thơ với nhiều hình chụp mầu mỹ thuật do tôi thực hiện có tên “Cho Valentine của Anh”.

Về hưu năm 2016 sau khoảng 15 năm làm thông dịch và phiên dịch viên tại Bệnh Viện và các Bệnh Xá Stanford ở Palo Alto, tôi được rộng rãi thời gian để tập trung vào việc sáng tác và phiên dịch thơ văn, một công việc mà tôi vô cùng ưa thích.

Năm 2019, tôi bắt đầu đưa những tác phẩm Anh ngữ đã hoàn thành lên Amazon, gồm hai tập thơ và một tác phẩm Triết có tên là “Panpsychism” gom lại 3 tác phẩm ngắn hơn về tư tưởng phương Tây và minh triết Phật giáo, đề ra một lối sống an bình cho chính mình giữa thời tao loạn khắp nơi. Đồng thời cũng hoàn thành một tác phẩm nữa có tên “Tâm là gì?” (What is Psyche?) bằng tiếng Việt cũng như Anh ngữ, giới thiệu ý niệm trung tâm của Phật pháp mà thế giới phương Tây không dám đụng tới, triển khai ở mức độ siêu đẳng nhất của khoa Vật Lý Lượng Tử và Lý Thuyết Dây mà các nhà bác học như Stephen Hawking đã có tham vọng từ đó đề ra một “Lý Thuyết Bao Trùm” (the Theory of Everything) giải thích toàn bộ vũ trụ và thiên nhiên từ suy tư vật lý đơn thuần.

Tôi cũng hoàn thành một số tài liệu về Phật pháp đã in hoặc còn trong dạng bản thảo và chưa có dịp phổ biến rộng rãi đến quần chúng như “Chân Như” (1999), “Ân Đức Sinh Thành” (2014), “Ngũ Giới, Ba Bài Kinh Phật dạy Người Tại Gia” (2014) vv.

Trong hai năm 2023 và 2024, tôi đã hoàn thành ba dịch phẩm từ Việt ngữ sang tiếng Anh. Đầu tiên là “After the War” (Sau Cuộc Chiến) dịch ba câu chuyện xảy ra sau năm 1975 tại Việt Nam. Sau đó là “Daddy, I đon’t Want to be a Communist” (Ba, Con Không Muốn Là Người Cộng Sản) kể lại cuộc đời Trần Ngọc Ánh. Cuối cùng là “The Sound of a Suffering Land” (Âm Vọng từ Miền Đất Khổ) dịch 8 truyện ngắn của Phan Nhật Nam.

Cũng trong năm 2023, tôi cho ra đời một tác phẩm khá lạ thường gọi là “đa hệ bút” (literary crossover) có tên là “PHA LÊ” (Crystal) gồm thơ, thơ dịch, truyện mini, tiểu luận, và cuối cùng là tranh vẽ.

Trong suốt thời gian dài, tôi vẫn tiếp tục cố gắng gửi đi những tác phẩm đã viết hoặc chuyển qua Anh ngữ đến các nhà xuất bản, cũng như qua các agent khắp nơi, nhưng cũng chẳng đưa đến kết quả gì. Mãi cho đến năm 2024 thì mới có một nhà xuất bản bên Anh chú ý và đề nghị in tập “REVELATION”. Cũng phải mất 2 năm tiếp theo thì tập thơ mới được chính thức ra mắt vào ngày 26 tháng 2 năm 2026. Hình thức tập thơ này vô cùng mỹ thuật làm tôi thật hài lòng. Đây là ‘cover blurb’ giới thiệu bằng tiếng Anh in nơi bìa sau cuốn sách:

“Revelation” is a mesmerizing tapestry of poetry, travelogue, and philosophical musings that dances between the sensual and the sublime. From the intoxicating allure of love scenes to the melancholic beauty of European landscapes, this collection captures life’s fleeting moments with raw honesty and lyrical grace. From the sun-drenched beaches of Nice to the rain-kissed streets of Paris, each locale is a backdrop for longing and revelation. Interwoven with sharp existential reflections, the work challenges perception, love, and creation itself. Playful yet profound, the “Tweet of the Day” snippets distill joy and sorrow into fleeting truths, while the eroticism of Rodin and Courbet mirrors the book’s celebration of flesh and spirit. A hymn to art, passion, and the ephemeral nature of existence, Revelation is a testament to the beauty of being alive, urging readers to savor every heartbeat, every touch, every whispered verse of the universe.
blank
Dịch ra tiếng Việt như sau:
“Revelation” là một bức tranh mê hoặc được dệt nên từ thơ ca, nhật ký du hành và những suy tư triết học, đan xen giữa sự gợi cảm và vẻ đẹp siêu phàm. Từ sức quyến rũ say đắm của những cảnh yêu đương đến vẻ đẹp u sầu của những phong cảnh châu Âu, tuyển tập này nắm bắt những khoảnh khắc thoáng qua của cuộc sống với sự chân thành mộc mạc và vẻ duyên dáng trữ tình. Từ những bãi biển ngập nắng ở Nice đến những con phố đẫm nước mưa ở Paris, mỗi địa điểm đều là bối cảnh cho nỗi khát khao và sự khám phá. Được đan xen với những suy ngẫm hiện sinh sắc bén, tác phẩm thách thức nhận thức, tình yêu và chính sự sáng tạo. Vui tươi nhưng sâu sắc, những đoạn trích "Tweet từng ngày" chắt lọc niềm vui và nỗi buồn thành những sự thật thoáng qua, trong khi chủ nghĩa khoái lạc của Rodin và Courbet phản ánh sự tôn vinh thể xác và tinh thần của cuốn sách. Là một bài ngợi ca nghệ thuật, đam mê và bản chất phù du của sự tồn tại, Revelation là minh chứng cho vẻ đẹp của cuộc sống, thôi thúc người đọc trân trọng từng nhịp đập, từng cái chạm, từng câu thơ thì thầm của vũ trụ.
.
Ngay sau đó, không hiểu do đâu, một nhà xuất bản tại Mỹ có tên là Archway, một chi nhánh ‘imprint’ của Simon & Schuster liên lạc, và chỉ cần chưa đầy một tháng sau, chấp nhận xuất bản một tập thơ mới của tôi có tên là “REALLY?” gồm nhiều bài thơ mang mầu sắc Thiền học nhưng với cái hồn hoàn toàn mới, rút cảm hứng từ những công án Thiền của Nhật Bản và Trung Hoa cũng như tinh chất của Trang Tử Nam Hoa Kinh. Đồng thời cũng có những bài dí dỏm về tuổi già, tình yêu và phê bình triết học Sartre, góp ý với Pascal, cũng như kết nối John Lennon với đạo học phương Đông.
 

Như vậy, hy vọng không lâu nữa, “REALLY?” sẽ ra đời, góp mặt với thế giới thơ thời “toàn cầu hoá”, biết đâu có thể khơi dậy lại sự chú ý đến thi ca như một đỉnh cao của sáng tạo con người, đã tắc nghẽn từ hơn nửa thế kỷ nay, kể từ thời “Howl” của Allen Ginsberg vào thập niên ’50 của thế kỷ trước tại Hoa Kỷ đã lay động thế giới thi ca, và sau đó là một thời gian dài ca nhạc thời trang đã làm tan hoang truyền thống thi ca với những bài thơ không vần vô hồn mà không ai thèm để tâm tới.
 

Sơ kết, cho đến nay, tôi đã có hơn 20 tác phẩm Việt, Anh và song ngữ ra mắt người đọc, và lần đầu tiên được một nhà xuất bản bên Anh chiếu cố, với triển vọng một tác phẩm ra mắt ngay tại Hoa Kỳ trong thời điểm không xa.
 
Trong thời gian sắp tới, tôi hy vọng có thể thử sức mình ở những năm cuối đời khi bắt đầu một ý định “điên rồ” là một trường thiên tiểu thuyết về lịch sử mang dấu ấn “nghìn người viết”, một điều mà tôi tha thiết muốn làm, và nếu có duyên may, biết đâu có thể hoàn thành làm quà cho thế gian trước khi giã từ “Planet Earth” này để tiếp tục vui bước trên đường tu học trong một kiếp mới.

Kim Vũ



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
-Bữa qua có chuyện ngộ lắm. Cái bàn cầu nhà tui cứ xục xịch hoài. Cái này có từ hồi mua nhà 10 năm trước, chứng tỏ hai con ốc nó cũ tới mức nào mới lỏng le vậy.
Nghe người ta nói: Người đẹp không cần son phấn, có đúng không chị?. Em thì lúc nào cũng cần son phấn, có ngược đời không chị nhỉ?
Màu tóc tự nhiên của người Á Đông là màu đen. Màu tóc đen mướt, mịn màng rất đẹp. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cũng nên làm cho màu tóc đen thêm phần tươi sáng nhờ vài nhiên liệu thường có sẵn trong nhà bếp, hoặc mua với giá khá rẻ ở chợ thực phẩm.
Nếu một người chủ thuê nhân viên có sự đối xử phân biệt, hoặc trả thù (ví dụ: người chủ sa thải một nhân viên bởi vì nhân viên đó đã hỏi anh ta tại sao họ không được trả tiền lương tối thiểu, hoặc bởi vì nhân viên đó nộp đơn, hoặc đe dọa nộp đơn yêu cầu tới bộ lao động), nhân viên đó có thể khiếu nại sự đối xử/ phân biệt/ trả thù tới văn phòng bộ lao động.
Chút ngỗ ngáo tom-boy. Màu sắc mùa thu hài hòa với tông nâu vàng đen, áo choàng dài, giày thể thao, đế thấp và bằng, thích hợp với những người có vóc dáng cao thon.
Bộ Nội An và Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ vừa loan báo những kế họach nhằm đưa ra khá nhiều điều lệ mới về di trú trong vài tháng sắp tới. Những quy luật này sẽ áp dụng cho những du khách xin chiếu khán công việc B-1, sinh viên du học với chiếu khán F1, những người chuyên nghiệp xin chiếu khán làm việc H1B và chiếu H4 dành cho người phối ngẫu của họ, và chiếu khán L-1.
Tin tức về việc Hạ Viện với đại đa số dân biểu Dân Chủ đã chính thức bỏ phiếu thông qua 2 điều khoản luận tội Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump hôm 18 tháng 12 đã gây sự chú ý đặc biệt trên khắp thế giới.
Đại Sứ Trung Quốc tại Thụy Điển là ông Quế Tòng Hữu đã bị các Nghị Sĩ Thụy Điển đòi trục xuất vì ông này đã nhiều lần phát ngôn uy hiếm Thụy Điển vì Hội Nhà Văn Thụy Điển đã trao giải thưởng Tucholsky cho một nhà văn và nhà xuất bản người Thụy Điển gốc Hồng Kông
Tô Kiều Ngân tên thật Lê Mộng Ngân, ông sinh năm 1926 tại Huế. Từ nhỏ ông đã sớm tỏ ra có chất nghệ sĩ, thường trốn học, đi chơi đó đây với cây sáo trúc không mấy khi rời tay.
Trung Tâm Công Giáo Việt Nam tọa lạc tại 1538 N. Century Blvd, Santa Ana, CA 92703, được hình thành vào năm 1975, với một số người Công Giáo tỵ nạn tại Orange County, với lúc đầu chỉ chừng 3,000, nhưng tới năm 1982 con số nầy đã tăng lên tới 7,000. Tuy đã có Thánh Lễ bằng tiếng Việt tại 9 nhà thờ của giáo xứ, nhưng họ vẫn thấy cần một nơi để sinh hoạt theo phong tục của người Việt.
Bị nước Tàu đô hộ ngàn năm, Việt Nam không bị đồng hóa mà vẫn giữ được truyền thống dân tộc. Tiếng nói, chữ viết, cách ăn mặc, tập tục, phong thái...và nói chung, mọi thứ đều là Việt Nam. Chuyện đó ai cũng biết.
Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn quê gốc làng Thanh Lương, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Ông sinh ngày 18 tháng 11 năm 1937 tại làng Dư Khánh, tỉnh Ninh Thuận.
Tôi từng bị ám ảnh không biết sau khi mình chết đi thì mọi việc sẽ như thế nào. Và thế là vào một đêm, tôi quyết định giả chết.
Lời tòa soạn: Những câu thơ dị thường viết bởi một thi sĩ dị thường! Đó là lời giới thiệu cho tập thơ Thơ và Đá của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn, do NXB Văn Học Press phối hợp với tổ chức Culture Art Education Resource xuất bản và phát hành tháng 12 năm 2019. Nhân dịp này Việt Báo hân hạnh được trao đổi đôi lời với cô Nguyễn Đức Phương Bối, ái nữ của nhà thơ. (Hiện nay chị Phương Bối vẫn sinh sống tại Việt Nam, trên mảnh đất do chính nhà thơ gầy dựng từ sau cuộc đổi đời 1975.) Dưới đây là nội dung cuộc nói chuyện.
Lời tòa soạn: Được biết tập thơ Thơ và Đá của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn là nỗ lực của NXB Văn Học Press và tổ chức Culture Art Education Exchange Resource liên kết thực hiện. Đây là tập thơ của một nhà thơ vốn được xem là một trong những thi sĩ lớn nhất của văn học miền Nam Việt Nam, giai đoạn 54-75. Tập thơ quy tụ những bài thơ chưa bao giờ được công bố cho đến ngày hôm nay. Nhân dịp này Việt Báo hân hạnh được tiếp chuyện cô Đào Nguyên Dạ Thảo, người đã bỏ ra rất nhiều công sức cho đề án này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.