Hôm nay,  

Vệ quốc

03/04/202221:16:00(Xem: 3763)

Truyện ngắn

HoaHD

 

Xứ Hoa Dương xinh đẹp và thanh bình, những cánh đồng hoa dương bạt ngàn rực rỡ một màu vàng tươi tắn, những cánh đồng lúa mì óng ả như mái tóc phụ nữ Hoa Dương. Đất đai phì nhiêu, trù phú đủ để người Hoa Dương sống sung túc an lành dưới bầu trời xanh thanh bình. Điều này đã làm cho ma vương sanh tâm đố kỵ, y thèm khát mảnh đất ấy từ lâu, y có tham vọng ngông cuồng như những tiền bối của y là phải chiếm lấy cho bằng được. Hùng ma vương nhiều lần dụ dỗ, ép buộc, đe nẹt quốc chủ Hoa Dương:

 

– Chú em với ta là một nhà, xưa nay nhận sự bảo hộ của các tiền bối nhà ta, nay chú em cũng phải quy phục ta, bằng không ta sẽ dùng vũ lực!

 

Quốc chủ Hoa Dương bình tĩnh, can trường:

 

– Chúng ta là bạn láng giềng, Hoa Dương không phải là chư hầu như ông nghĩ!

 

Ma vương cười gằn đầy nham hiểm:

 

– Chú em đừng quên, xứ sở của chú em vốn là một phần của quốc độ ta, từ xưa đến nay là phiên thuộc ta!

 

– Xin lỗi ông, đó là sự hoang tưởng và sự áp đặt cưỡng bách. Chúng tôi đã thoát ra rồi, hiện giờ chúng tôi hoàn toàn độc lập và tự chủ.

 

Hùng ma vương mặt lạnh như băng Bắc Cực, ánh mắt như lang sói, y gầm gừ:

 

– Không được phép độc lập! Chú em phải trung lập theo chiến lược của ta! Cấm chú mày giao lưu hay kết bạn với Chú Sam và bè lũ Bắc Đại Tây Dương!

 

– Thật vô lý! Chúng tôi muốn kết bạn với ai là quyền của chúng tôi, chúng tôi muốn nhập bọn với ai là quyền tự quyết của dân tôi!

 

– Chú mày dám chống ta à?

 

– Chúng tôi không chống ai cả, chúng tôi chỉ muốn sống hòa bình, sống với độc lập tự do của chúng tôi!

 

– Nếu chú mày không nghe lời ta thì hãy chuẩn bị đón đòn sấm sét!

 

*  

 

Hùng ma vương và bộ sậu khuấy động một chiến dịch phỉ báng Hoa Dương, chúng tuyên truyền sai sự thật, tung ra những thuyết âm mưu giả trá, bịa đặt những việc tưởng tượng để kết tội Hoa Dương. Cái dã tâm của Hùng ma vương quá ngông cuồng, y quyết sáp nhập Hoa Dương vào đất y, y có mộng làm đại đế và biến quốc độ của y thành đế quốc. Y đem quân áp sát biên giới Hoa Dương, không khí chiến tranh vô cùng căng thẳng, mùi sát khí từ Hồng cung lởn vởn tỏa ra khắp thế gian. Chú Sam gởi thông điệp cho Hùng ma vương:

 

– Không được đụng đến Hoa Dương! Bằng không thì chúng tôi sẽ cắt nguồn máu của ông.

 

Hùng ma vương cười khinh kỉnh:

 

– Ông cắt nguồn máu của ta tức là tuyên chiến với ta, thế chiến sẽ xảy ra!

 

Chú Sam vẫn minh định:

 

– Không được đụng đến Hoa Dương, nếu không sẽ bị cắt nguồn máu, sẽ bị đóng băng tài sản của ông và bộ sậu, sẽ bị cô lập hoàn toàn. Các ông chỉ có thể quanh quẩn sân nhà chứ không thể ra ngoài!

 

Nhóm Bắc Đại Tây Dương theo kế của Chú Sam, đồng lòng ủng hộ Hoa Dương. Tuy nhiên khi bị Hùng ma vương đe dọa thì bọn họ chỉ giúp Hoa Dương một chút khí tài chứ không dám cho quân đến giúp Hoa Dương. Tiếc thay Hoa Dương đã đặt trọn niềm tin vào bọn họ, quyết chí xin nhập bọn với họ, cũng vì cái lý do này mà Hùng ma vương điên tiết và tấn công Hoa Dương. Nhóm Bắc Đại Tây Dương có vẻ đông đảo và hùng mạnh nhưng thực chất có nhiều kẻ tự tư tự lợi, đã từng giao hảo với Hùng ma vương để thủ lợi, bởi thế khi có chuyện xảy ra thì không thể đi đến quyết định chung. Giờ đây nghe Hùng ma vương đe dọa: “Nếu giúp Hoa Dương ta sẽ cắt dầu, cắt khí và sẽ dùng bảo bối hạt nhân”, thế là cả nhóm xếp càng im re.

 

*

 

Mặc cho cả thế giới cảnh báo trừng phạt nhưng Hùng ma vương vẫn không đổi ý, thế rồi cái ngày đại nạn xảy ra. Hùng ma vương xua quân tràn sang Hoa Dương, bom đạn, hỏa tiển, tên lửa hành trình… dội xuống như mưa tuyết. Xe tăng bắn cả nhà thương, nhà thờ, nhà trường, nhà trẻ, nhà hát... Hùng ma vương ra lệnh:

 

– Công kích không chừa bất cứ mục tiêu nào!

 

Xứ sở Hoa Dương tan tành dưới sự tấn công tàn bạo và man rợ của quân đội ma vương. Chúng công kích suốt ngày đêm. Những thành phố vốn đẹp đẽ và bình yên giờ thành những đống đổ nát, những cánh đồng hoa dương giờ như bãi tha ma, những thị trấn an lành giờ thành bình địa. Máu người Hoa Dương nhuộm đỏ tuyết trắng, thịt xương người Hoa Dương lầy trong những đống đổ nát. Những thiếu phụ mang bầu không có chỗ sanh, những em bé không có nơi trú ngụ, cả dân tộc Hoa Dương bỗng chốc trắng tay, không còn nhà cửa, không điện ga sưởi ấm, không thực phẩm thuốc men...Một thảm cảnh mà trước đó một tuần không thể tưởng tượng ra. Hùng ma vương muốn khủng bố người Hoa Dương, muốn bẻ gãy tinh thần bất khuất của họ. Y ra lệnh tấn công bất kể dân sự hay quân sự, y muốn Hoa Dương trở thành bình địa để trả thù sự kiên cường dõng mãnh của họ. Y càng tàn ác thì người Hoa Dương càng can trường và quyết tâm hơn. Họ đoàn kết quây quanh quốc chủ để chiến đấu cho quê hương xứ sở. Họ quyết đứng thẳng chứ không chịu quỳ. Họ thấm nhuần tư tưởng:” Tự do hay là chết”.

Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, quân đội ma vương đông đảo, khí tài dồi dào, chúng quyết san Hoa Dương thành bình địa. Dù vậy người Hoa Dương vẫn kiên cường giữ vững thế trận của mình. Loài người khắp thế gian biểu tình chống chiến tranh, đả đảo ma vương. Loài người khắp thế gian khâm phục ngưỡng mộ quốc chủ và quân dân Hoa Dương. Họ kêu gọi quyên góp giúp người Hoa Dương, Những chiến binh tự do cũng quyết tâm đến Hoa Dương để cùng họ chống lại ma vương. Chú Sam gởi lời mời quốc chủ Hoa Dương di tản. Ông ấy khảng khái đáp:

 

– Tôi không đi đâu cả, đây là nơi của tôi!

 

Lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường của quốc chủ làm cho cả thế gian này cảm phục vô cùng. Quân dân Hoa Dương ủng hộ quốc chủ của mình một cách cao độ. Quốc chủ cũng không phụ lòng dân, ông ấy cởi bỏ vương bào mặc chiến bào ra chiến hào với quân dân. Quốc chủ mặc  giáp bào đi ủy lạo quân dân, viếng thăm cô nhi quả phụ. Ngay cả phu nhân xinh đẹp của ông cũng sát cánh với chồng, với quân dân Hoa Dương để chiến đấu chống quân xâm lăng. Những cô gái trẻ xinh đẹp, mắt xanh tóc vàng lẽ ra đang sống hạnh phúc với người yêu, giờ cũng xung phong ra tuyến đầu vệ quốc. Họ tổ chức lễ cưới ngay tại chiến trường. Những chuyện tình trong chiến tranh vệ quốc đẹp và bi thương hơn cả truyện cổ tích ngày xưa. Quốc chủ Hoa Dương đã tạo nên một làn sóng cảm khái tích cực trong lòng quân dân, ông đã trở thành một biểu tượng yêu nước và can trường, không chỉ người Hoa Dương yêu mến và kính phục ông ấy, người khắp thế gian cũng yêu mến và cảm phục vậy! Ông ấy và quân dân Hoa Dương đã viết nên một bản anh hùng ca mới về tinh thần yêu nước và lòng gan dạ, can trường trong cuộc chiến vệ quốc.

 

*

 

Thiên hạ xưa nay vẫn thường nói: Phật có Phật tử, ma có ma quân; nhà có hiếu tử thì cũng có nghịch tử; nước có hiền thần thì cũng có nghịch thần; xã hội có người ngay ắt cũng không ít kẻ gian. Người xứ Vệ cũng thế, đa số đều đồng cảm với người Hoa Dương, ủng hộ cuộc chiến vệ quốc của họ, đã có những cuộc lạc quyên ủng hộ, có những hành động chia sẻ niềm tin, công lý… Người xứ Vệ rất thấm thía với nỗi đau vong quốc, họ đã từng bị tổ tiên của Hồng xếnh xáng xâm lăng cai trị nhiều đời. Họ đã tốn bao nhiêu xương máu để giành lại độc lập tự do. Bởi vậy họ rất hiểu và thông cảm với cuộc chiến vệ quốc của người Hoa Dương. Hoa Dương ở cạnh Hùng ma vương, họ ở sát nách Hồng xếnh xáng, cả hai quốc độ ở hai phương trời nhưng có chung một mối nguy hiểm lớn. Cả Hùng ma vương lẫn Hồng xếnh xáng đều có dã tâm xâm lăng lấn đất lập đế quốc. Cái tư tưởng cướp đất lập đế quốc là cái tư tưởng lạc hậu của thời mông muội xa xưa, ấy vậy mà nó vẫn di truyền trong huyết quản của bọn chúng. Người xứ Vệ đau với cái nỗi đau của người Hoa Dương, ủng hộ cuộc chiến vệ quốc của người Hoa Dương là vậy. Tuy nhiên cũng có một số dân Vệ lại tà tâm đi ủng hộ Hùng ma vương, bọn chúng vui vẻ hò reo khi thấy xứ sở Hoa Dương bị công kích dã man tàn bạo, chúng ăn mừng khi thấy máu người Hoa Dương đổ, chúng khen ngợi Hùng ma vương hết lời. Sứ quán Hoa Dương ở xứ Vệ tổ chức lạc quyên thì bị quan quân xứ Vệ ngăn cản và phá rối đến độ phải huỷ bỏ. Có một hèn tướng tuyên bố:

 

– Quốc chủ Hoa Dương là một thằng hề trẻ, sao dám chống lại Hùng ma vương lão luyện đầy kinh nghiệm?

 

Dân xứ Vệ chưa hết bàng hoàng và xấu hổ thì một bồi tướng khác lại phát biểu:

 

– Hoa Dương vốn là đất phiên thuộc của Hùng ma vương, sao dám tự tiện kết giao với Chú Sam và nhóm Bắc Đại Tây Dương? Bị tấn công là phải rồi!

 

Thật không biết tả sao cho hết nỗi đớn hèn bạc nhược và nhục nhã này! thân làm tướng mà có tư tưởng tôi đòi ưng khuyển như thế! Những lời phát biểu vừa thể hiện sự kém hiểu biết vừa bộc lộ rõ cái tư cách thấp kém. Người xứ Vệ thấy nhục lây vì những tay tướng Vệ này.

 

*

 

 Thiên hạ bốn bên lâu nay vẫn biết cái tình kết giao giữa Hùng ma vương và Hồng xếnh xáng, có lạ chi đâu đầu trâu mặt ngựa với nhau, mạt cưa mướp đắng một phường. Trước khi cuộc chiến Hoa Dương xảy ra. Hồng xếnh xáng bắt tay Hùng ma vương xúi:

 

– Nị cứ đánh chiếm Hoa Dương đi! Ngộ sẽ ủng hộ hết lòng, trước là cảm ơn nị ủng hộ ngộ le lưỡi bò liếm bể Đông, dẹp dân chủ Hương Cảng, đe nẹt bọn tép riu Đông Nam Á; sau thì gởi thông điệp đến Đài Loan, Vệ quốc:” Chúng mày hãy xem cái gương Hoa Dương mà liệu hồn!”

 

Thế rồi Hùng ma vương xua quân xâm lăng Hoa Dương, thiên hạ ngỡ Hồng xếnh xáng sẽ gởi tiền của, khí tài hay quân binh đến giúp, nào ngờ y án binh bất động. Hùng ma vương sa lầy kêu cứu, y cũng giả tảng làm lơ, thế thì hai năm rõ mười rồi nhé! Y là kẻ là ngư ông, để mặc cò ngao tranh nhau mà thủ lợi. Y không giúp Hùng ma vương, một phần để cho Hùng ma vương yếu đi thì y đỡ phải lo, một phần sợ Chú Sam trừng phạt. Hồng xếnh xáng là một con cáo già ma mãnh đầy thủ đoạn, chơi với y thì chỉ có bị thương cho đến chết. Thiên hạ bao nhiêu người đã chết vì y, đã mất đất vì y! Tình bạn giữa y với Hùng ma vương chẳng khác gì kẻ cắp với bà già, chung lưng mở gian hàng nhưng kẻ nào cũng gian và muốn dìm hàng của nhau, bắt tay nhau nhưng cũng sẵn sàng diệt nhau để độc xưng bá.

 

Cuộc chiến trên xứ sở Hoa Dương quá tàn khốc. Người Hoa Dương đơn độc chống lại bạo quyền, họ chiến đấu vì xứ sở, chiến đấu dũng mãnh đẩy lùi được những đợt tấn công dã man của quân đội Hùng ma vương. Cái giá phải trả cho độc lập tự do quá đắt. Máu người Hoa Dương đã đổ ra, những thành phố thành bình địa, những đồng hoa dương tan nát dưới đạn bom. Xác người Hoa Dương lầy trong băng giá, hàng triệu người phải tỵ nạn ly hương. Bầu trời xanh ám muội khói súng...Người Hoa Dương vẫn đứng vững, không một chút sờn lòng nhụt chí. Người Hoa Dươgn đang chiến đấu cho độc lập tự do của họ, chiến đấu cho cả công lý của thế gian này, một cuộc chiến vệ quốc hào hùng.

 

Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 04/22)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.