Hôm nay,  

Chà Là

21/08/202210:41:00(Xem: 4447)

Truyện ngắn

chala

Sau chuyến road trip ngắn ngày đến Phố Núi Banff, điểm du lịch nổi tiếng của tiểu bang Alberta của tôi, tôi bỗng bị một cơn sốt cao và nhức đầu, khắp chân tay nổi những vết đỏ, hành hạ mấy ngày trời, cuối cùng tôi phải đến phòng Emergency Room của bệnh viện.

 

Nằm vật vã trong căn phòng bé tí, cũng may là khi test nhanh thì không phải Covid (tôi đã chích đầy đủ hai mũi Pfizer), lòng vẫn ngổn ngang những nghĩ suy và lo lắng, thì có hai cô y tá trẻ bước vào, một cô da trắng, có vẻ là người hướng dẫn cho cô còn lại, nhưng do lúc ấy tôi quá mệt nên không nhớ tên khi cô da trắng giới thiệu họ tên của cả hai. Tôi đoán cô còn lại là người Châu Á hoặc Nam Mỹ, nhưng chắc chắn không phải người Việt vì cái họ lạ hoắc nghe qua là quên ngay. Cô nàng chắc mới ra trường, bây giờ đang được theo cô da trắng thực tập trên bệnh nhân là tôi. Nước da nó ngăm ngăm, mầu nâu bóng như trái chà là, và đôi mắt to đen hiền hoà khiến tôi yên tâm, mỉm cười chào. Đại khái cô Da Trắng nói với tôi, là cô Chà Là sẽ lấy mấy ống máu của tôi mang đi thử, tôi cũng gật gù, đưa cánh tay ra hợp tác. Nó bắt đầu chuẩn bị lấy dây thun, kim chích và mấy ống đựng máu, để sẵn sàng trên cái khay ngay đầu giường. Tôi quay mặt nhìn lên tường chờ đợi, thì hỡi ôi, một cái nhói đau tận xương da vì cô Chà Là đâm cây kim vào cánh tay tôi nghe cái rụp, thiếu điều muốn gẫy cây kim, tôi rú lên theo phản xạ tự nhiên, nó luống cuống lắp bắp mấy từ “sorry, sorry” trong khi cô Da Trắng biểu cô Chà Là làm lại. Tôi cố kìm cơn đau, kiên nhẫn chờ đợi thì một lần nữa, cô Chà Là đâm kim vào tay tôi như muốn xé da xé thịt, dù cô Da Trắng reo lên là đã ok, tôi lại la lên vì quá đau, và trong phút giây đó nếu được đạp chân đá cô Chà Là ra cửa tôi cũng làm ngay cho hết cơn đau và bực tức.

 

Tôi giận hờn không thèm nói một lời dù trước khi bước ra khỏi phòng, Chà Là đã cẩn thận kéo tấm mền cho tôi nằm nghỉ và nhẹ nhàng nói “bye” với nụ cười hối lỗi. Rồi thì mấy viên thuốc Advil đã bắt đầu có hiệu quả. Tôi thấy bớt nhức đầu và lim dim mắt tìm giấc ngủ. Đang mơ màng ngon giấc thì linh tính như có ai đứng bên giường, tôi mở mắt thấy Chà Là ngay bên cạnh. Tôi tỏ vẻ khó chịu, nhủ thầm “đồ vô duyên”, rồi đưa mắt dò hỏi thì nó lại ríu rít xin lỗi vì đã làm tôi dở dang “giấc điệp” và thông báo sẽ gắn dây truyền nước vào cánh tay cho tôi. Tôi nhìn khắp phòng, có ý tìm Da Trắng nhưng chẳng thấy đâu, Chà Là hiểu ý tôi và giải thích chỉ có mình nó làm nhiệm vụ này, vì Da Trắng đang bận với một bệnh nhân khác. Tôi lạnh lùng gật đầu, và cũng quay mặt vào tường như lần trước, với tinh thần có thể sẽ có đau đớn đang chờ đợi, còn Chà Là chắc cũng như tôi, từ kinh nghiệm hồi nãy, nó có vẻ cẩn thận hơn, chậm rãi và tỉ mỉ hơn với từng động tác, cuối cùng thì cũng xong, dù chẳng êm ả gì! Tôi tự hỏi, nó là một đứa yếu tay nghề, vì mới ra trường, hay vì hồi đầu đã sơ xuất làm tôi giận dữ đã làm cho nó hồi hộp rụt rè, nên không làm nổi một việc mà người y tá nào cũng thành thạo? Tôi vẫn chẳng nói với nó nửa lời, tiếp tục… giận hờn, cố tìm lại giấc ngủ, trong khi nó dọn dẹp đồ nghề, khi rời khỏi phòng còn chúc tôi ngủ ngon.

 

Lần này thì tôi ngủ ngon thật, cũng phải một vài tiếng sau mới tỉnh dậy khi trời sập tối, một cô y tá khác tươi cười bước vào đo nhiệt độ và mang cho tôi khay thức ăn. Tôi ăn chút bánh mì với peanut butter, một ly nước cam và thấy tỉnh táo hơn, trả lời mấy câu hỏi của cô y tá thật thoải mái. Tôi chợt nhớ đến Chà Là và thấy mình đã hơi bất công với nó. Chắc tại nó xuất hiện không đúng nơi, đúng lúc, khi mà tôi mới nhập viện trong cơn đau hành hạ, tinh thần còn nhiều bất ổn, lo sợ, mà nó thì lại vụng về gây mất thiện cảm nơi tôi chăng? Giờ thì cơn đau đã bớt nhiều, mọi việc cũng đã ổn định khi bác sĩ cho biết tôi bị insect bites gây nhiễm độc trên da, tôi mới có dịp nhớ lại thái độ của mình với Chà Là và áy náy, tự giận mình vô cùng.

 

Nó nào có lỗi gì đâu chứ, ngoài cái thiếu kinh nghiệm của một cô gái trẻ mới ra trường? Tôi nhớ đến con gái của mình, cũng đang làm y tá ở thành phố bên cạnh. Nó đã kể cho tôi nghe những câu chuyện vui, hoặc chuyện xúc động của các bệnh nhân, nói chung là những kỷ niệm đẹp, vậy mà giờ đây tôi vừa cho Chà Là một “kỷ niệm xấu”, chắc hẳn nó đang buồn lắm.

 

Cả đêm hôm ấy, tôi ngủ chập chờn, chỉ mong mau tới sáng để gặp Chà Là, chắc chắn tôi sẽ mỉm cười trước, (để bù lại cái khuôn mặt chắc là xấu xí, khó ưa của tôi khi nổi giận), rồi sẽ hỏi thăm thân mật và mong nó hiểu cho tâm trạng của tôi.

 

Trời sáng dần, bên ngoài các y tá, bác sĩ bắt đầu rộn ràng qua lại, mới 5 giờ sáng mà họ chộn rộn với những hồ sơ thăm bệnh, đi hỏi han từng giường. Một cô y tá bước vào để đo nhiệt độ và lấy máu một lần nữa theo lệnh của bác sĩ. Cô này có vẻ đứng tuổi, dễ gần gũi, nên tôi tính hỏi về Chà Là nhưng chẳng biết hỏi làm sao khi tôi không hề nhớ tên thật của nó. Còn nếu nói chung chung là người “da màu” làm ở đây chiều qua, thì liệu cô này có biết không?

 

Cứ như thế, suốt một buổi sáng đến tối, khi thì có người mang thuốc và thức ăn trưa vào phòng, khi thì người khác vào chuyển tôi qua phòng chờ CT scan, khi thì cô y tá ban sáng trở lại, tôi luôn hỏi thăm về Chà Là, ai cũng mơ hồ suy đoán, và cho câu trả lời giống nhau, rằng có thể hôm nay nó làm ca chiều, nhưng nó có được phân công vào phòng của tôi hay không thì không chắc, bởi mỗi ngày các y tá được điều đi bất cứ phòng nào mà bác sĩ cần. Tôi lại “ăn không ngon, ngủ không yên”, lòng nặng trĩu, mong chờ Chà Là xuất hiện nơi cửa phòng với đôi mắt sáng, nụ cười mắc cỡ, và làn da nâu mặn mà.

 

Trưa hôm sau, nhóm bác sĩ quyết định cho tôi về, và cho tôi một cái hẹn với một bác sĩ chuyên môn về da để tiếp tuc theo dõi. Chồng tôi đến mang theo một ít quần áo, vật dụng cá nhân cho tôi. Tôi hớn hở dọn dẹp phòng của mình, rồi chần chừ nơi hành lang để tìm Chà Là, chồng tôi đã nghe tôi kể lại câu chuyện, liền kết tội tôi:

 

– Vậy là em racist rồi đấy, thấy nó da màu rồi… ăn hiếp.

 

– Không! Không! Vạn lần không, em xin thề! Vì nó làm em đau, thì dù là da trắng da đen hay da đỏ da vàng, em cũng sẽ vẫn… nổi sùng!!!

 

Hai vợ chồng đi bộ ra ngoài sân bệnh viện, tôi hít một hơi đầy lồng ngực không khí tươi mát sau ba ngày quanh quẩn với mùi cồn, mùi thuốc, mùi… bệnh nhân, thì nghe tiếng bước chân chạy phía sau chúng tôi, dồn dập cùng với tiếng gọi:

 

– Mrs. Nguyen… Mrs. Nguyen!

Chúng tôi cùng quay đầu lại, bất ngờ, vì đó chính là Chà Là. Nó chạy đến, trao cho tôi cái dây charge iphone, hổn hển nói:

 

– Tôi đến phòng chuẩn bị vào ca mới, thì thấy cô để quên cái này, liền chạy theo đưa lại cho cô, vì nó cũng khá mắc tiền, mà về nhà không có nó cũng mệt lắm đấy!

 

Tôi hiểu ra sự tình, khi nãy lúc ra về, tôi đã không nhìn thấy dây charge vì đêm qua tôi cắm nó ở góc tường, khuất phía sau bàn ăn. Cái dây charge chỉ vài chục đồng, nhưng quả thật là phiền phức nếu không có nó để xài.

 

Chồng tôi nhanh nhẩu cám ơn Chà Là, trong khi tôi say sưa ngắm nó: mắt long lanh, nụ cười hiền, và bây giờ dưới ánh sáng bên ngoài, tôi còn thấy hàm răng nó rất trắng và đều đặn, nổi bật giữa làn da nâu làm cho khuôn mặt nó thêm dễ thương dễ mến. Nó nhìn chúng tôi xua tay, ý nói là không có chi, rồi vội bước đi, không quên chúc tôi giữ gìn sức khoẻ và bằng an. Tôi ngỡ ngàng chưa kịp nói gì, chỉ biết nhìn theo dáng nhỏ bé khuất sau cánh cửa kiếng của bệnh viện, trước khi vào trong, nó quay nhìn lại chúng tôi, vẫy tay ríu rít.  Nắng chiều rực rỡ, phản chiếu trên mái tóc nó những vệt sáng và bộ đồng phục y tá nhìn xa như chiếc áo thiên thần, tôi cũng đưa hai tay lên chào lại nó.

 

Lúc ấy, tôi chợt nhớ ra mình vẫn chưa xin lỗi và hỏi tên thật của Chà Là!

 

Kim Loan

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève chia đôi đất nước Việt Nam, người Pháp thất bại ở mặt trận Điện Biên Phủ, trả lại chủ quyền miền Bắc cho việt cộng. Việt Minh kéo từ mạn ngược và khắp nơi chúng đã ẩn náu về tiếp thu thủ đô Hà Nội và sau đó, toàn thể các tỉnh thành phía Bắc cho vào tới vĩ tuyến 17. Chúng ta mất một nửa giang sơn. Pháp có 80 ngày chuyển giao Hà Nội, 100 ngày giao Hải Dương, 300 ngày trả Hải Phòng, rồi chấm dứt. Việt cộng nằm vùng trong miền Nam cũng tự do ra Bắc tập kết, dù rất ít, nhưng làn sóng người miền Bắc di cư vào Nam thì đông nườm nượp… như nước vỡ bờ, họ chạy trốn, họ sợ cộng sản, họ sợ cái chế độ tam vô đang rượt đuổi sau lưng. Họ ra đi lánh nạn, đa phần phải bỏ lại gia sãn của cải, mồ mả cha ông… họ ra đi nhanh, mau lẹ nhất là các thành phố Hà Nội Hải Phòng, các xứ họ đạo công giáo Bùi Chu, Phát Diệm… có người vội vã đến chỉ ôm theo một tấm ảnh đức mẹ Maria… họ rủ nhau cứ xuống Hải Phòng là có tàu há mồm, há mồm chờ sẵn, chờ họ lên tàu và chở họ vô miền Nam.
Hà Nội có mùa Thu, Ninh Thuận quê tôi ở đó chỉ có hai mùa nắng gió. Buổi sáng mai hôm ấy mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua con đường làng Xóm Động, rồi đến con đường cái quan tráng nhựa. Mẹ tôi nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua cầu "Ông Cọp", rồi cầu "Nước Đá" và đến tận cửa trường tiểu học Phan Rang. Tôi cúi đầu đi qua cổng trường có tấm biển lớn có hàng chữ Tây: "Indochine Francais- École Primaire De Phanrang"...Giữa sân trường có cột cờ với lá cờ ba màu của Pháp treo tận chót vót. Trường của tôi hình như vừa quét nước vôi và có cửa kiến, tôi thoáng nghe mùi cửa sổ mới sơn.
Trước năm 1975, ngày đó tôi còn là một cậu thiếu niên ham thích đọc tiểu thuyết trinh thám mạo hiểm của Người Thứ Tám với nhiều câu truyện phiêu lưu, hồi hộp của chàng điệp viên Z-28 đào hoa, đẹp trai Tống Văn Bình. Tôi còn nhớ chàng điệp viên tài giỏi, võ nghệ siêu quần của chúng ta được phái đi thi hành một nhiệm vụ tình báo tại Maldives, một đảo quốc mà khi chúng ta nhìn về phía chân trời, nơi Trời và Biển gặp nhau, vì chính chúng ta cũng đang sống trên mặt nước...
Khoảng gần ba giờ chiều tôi rời khách sạn Ninh Kiều, cuối đường Hai Bà Trưng, nhìn ra sông Cần Thơ. Trời hanh nóng và đứng gió. Giấc ngủ trưa dài sau bữa ăn nhẹ, khiến tôi tỉnh táo và phấn chấn hẳn lên. Hãy còn sớm, hai giờ nữa tôi mới có hẹn với gia đình người bạn thân ở nhà hàng Hoa Sứ. Thời gian đủ để tôi dạo chơi và ghé chợ Cần Thơ tìm mua một vài thứ đồ lưu niệm… Vài cơn gió nhẹ mang theo hơi nước từ dòng sông thổi dọc theo công viên thật dễ chịu. Bến Ninh Kiều ngày nay thật khang trang và đẹp. Đi dọc mé sông, từ đây tôi có thể nhìn thấy chiếc cầu treo Cần Thơ sừng sững, hiện đại. Phía trước khách sạn là nhà hàng nổi và không xa là chiếc du thuyền nhà hàng lộng lẫy về đêm. Du khách vừa ăn tối vừa dạo cảnh quanh sông và có cảchương trình văn nghệ thật đặc sắc của miền Tây sông nước
Nàng tỉ tê với nhỏ bạn về những cuộc “thảo luận” sôi nổi của vợ chồng nàng. Bằng mọi giá, nàng muốn giữ cho đứa con có tuổi thơ tươi đẹp, hạnh phúc. Bao năm qua, đã có lúc nàng buồn rầu nghĩ, mình như con gà đẻ trứng vàng. Chỉ được việc, nhờ biết đẻ trứng vàng. Nàng không dám đề cập đến chuyện tiền bạc, sợ làm chồng buồn, cho rằng nàng cậy sức mạnh kim tiền lấn áp chồng. Nàng rất may mắn trong cuộc sống ngoài xã hội. Chưa ra trường, nàng đã nhận được hợp đồng làm việc với một trong những hãng hàng đầu của nước Đức. Ngược lại, chồng nàng quá lận đận. Cả năm trời, anh chạy đôn, chạy đáo tìm việc, mà vẫn phải nằm nhà. Nàng tự nhủ, tài lộc trời ban, gia đình sống thoải mái, chứ tính toán chi mà mất hòa khí vợ chồng. Tháng tháng, nàng thanh toán nợ to, nợ nhỏ, hàng hàng lớp lớp chi phí tất yếu của xã hội văn minh.
Xíu tiếp tục cuộc hành trình bất tận của mình, đừng tưởng Xíu chơi hoang hay đi rông, phiêu bạt giang hồ vô tích sự. Chính sự lang bạt kỳ hồ của Xíu và anh em nhà Xíu đã đem lại mưa thuận gió hòa, đem lại nguồn sống cho loài người và vạn vật muôn loài. Lần này Xíu quay về lại góc Đông Nam Á châu, nơi có dòng sông thiêng liêng chảy qua.
Tôi không phải là thi sĩ, nhưng chắc cũng giống như những thi nhân của đất Việt, thường gửi gấm tâm tình u uất vào những vần thơ của mình. Những bài thơ viết xong, tôi cặm cụi chép vào nhật ký, xen vào những lời than thân trách phận, hờn mây khóc gió. Cuốn nhật ký, tôi cất kỹ trong ngăn kéo ở cái table de nuit cũ kỹ bên cạnh chiếc giường nhỏ trong phòng ngủ. Cũng may là má chưa lục ra đọc lần nào...
Cuối cùng, vợ tôi cũng đồng ý một cách vui vẻ cho tôi lấy vợ bé. Một hành động vượt ra ngoài quan niệm ái tình nghiêm túc của bà. Vợ bé tên Hà, do vợ lớn đặt. Tên khai sinh của Hà là Đỗ thị 451. Vợ lớn nói, số này hên, cộng lại là 10. Hà lai Ái Nhỉ Lan. Ở lứa tuổi gần ba mươi, chưa lấy chồng, không có con, một thân hình phước đức cho bất kỳ người đàn ông nào, sáu mươi bảy tuổi, như tôi.
Kế hoạch của anh ấy thật là hợp lý: anh ấy sẽ giấu tôi phía sau cốp xe Austin-Healey, một chiếc xe dạng rất thấp mà anh vừa mới mua bên Áo và đã tháo kính che gió ra. Chúng tôi chỉ cần đi qua bên dưới rào chắn, trong khi mấy tên cảnh sát nhân dân Vopo*2/ thì bận lo kiểm tra giấy tờ như thường lệ. Rolf đã tính toán nhiều lần, tính đi tính lại, anh lại còn xì bớt hơi các bánh xe: như thế cái xe sẽ không vượt quá 90 cms bề cao. Anh chỉ cần cúi đầu xuống, nhấn mạnh vào cần tăng tốc, thế là chúng tôi sẽ qua bên kia địa phận đất Mỹ! Một "bờ thành" nhỏ làm bằng gạch sẽ bảo vệ tôi khỏi những lằn đạn có thể xảy ra. Và rồi sau đó là tự do...
(Viết cho bằng hữu tháng tư 1954. Chúng tôi 300 thanh niên trình diện trại Ngọc Hà động viên vào Đà Lạt cùng hát bài ca Hà Nội ơi, năm 20 tuổi chưa từng biết yêu. Sau 21 năm chinh chiến, tháng tư 75 khóa Cương Quyết hát tiếp. Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay theo mây chiều. Ngày nay, tháng 7-2024 vào nursing home thăm bạn cùng khóa. Ba anh bạn đại tá lữ đoàn trưởng mũ xanh mũ đỏ cùng đại đội võ bị ra đánh trận Quảng Trị chỉ còn Ngô Văn Định. Ghé lại bên tai nghe Định hỏi nhỏ. /Bên ngoài còn mấy thằng,/ Còn liên lạc được 4 thằng. Ngoài 90 cả rồi.Tôi báo cáo./ Thằng Luyện mới đến thăm./ Định nói./ Luyện nhảy Bắc 21 năm biệt giam mà còn sống. Hay thật./ Tôi nói./ Bạn yên tâm. Ngoài này còn thằng nào chơi thằng đó./ OK bạn còn sống lo cho anh em.)
Năm Giáp Ngọ 1954 có thể gọi là năm đại diện cho tuổi thơ tôi. Chỉ trong một năm 1954 đã có quá nhiều biến cố xảy ra dồn dập trước mắt chú bé mười hai tuổi mà suốt trong đời chưa có thời điểm nào đặc biệt như vậy...
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.