Hôm nay,  

Chà Là

21/08/202210:41:00(Xem: 4433)

Truyện ngắn

chala

Sau chuyến road trip ngắn ngày đến Phố Núi Banff, điểm du lịch nổi tiếng của tiểu bang Alberta của tôi, tôi bỗng bị một cơn sốt cao và nhức đầu, khắp chân tay nổi những vết đỏ, hành hạ mấy ngày trời, cuối cùng tôi phải đến phòng Emergency Room của bệnh viện.

 

Nằm vật vã trong căn phòng bé tí, cũng may là khi test nhanh thì không phải Covid (tôi đã chích đầy đủ hai mũi Pfizer), lòng vẫn ngổn ngang những nghĩ suy và lo lắng, thì có hai cô y tá trẻ bước vào, một cô da trắng, có vẻ là người hướng dẫn cho cô còn lại, nhưng do lúc ấy tôi quá mệt nên không nhớ tên khi cô da trắng giới thiệu họ tên của cả hai. Tôi đoán cô còn lại là người Châu Á hoặc Nam Mỹ, nhưng chắc chắn không phải người Việt vì cái họ lạ hoắc nghe qua là quên ngay. Cô nàng chắc mới ra trường, bây giờ đang được theo cô da trắng thực tập trên bệnh nhân là tôi. Nước da nó ngăm ngăm, mầu nâu bóng như trái chà là, và đôi mắt to đen hiền hoà khiến tôi yên tâm, mỉm cười chào. Đại khái cô Da Trắng nói với tôi, là cô Chà Là sẽ lấy mấy ống máu của tôi mang đi thử, tôi cũng gật gù, đưa cánh tay ra hợp tác. Nó bắt đầu chuẩn bị lấy dây thun, kim chích và mấy ống đựng máu, để sẵn sàng trên cái khay ngay đầu giường. Tôi quay mặt nhìn lên tường chờ đợi, thì hỡi ôi, một cái nhói đau tận xương da vì cô Chà Là đâm cây kim vào cánh tay tôi nghe cái rụp, thiếu điều muốn gẫy cây kim, tôi rú lên theo phản xạ tự nhiên, nó luống cuống lắp bắp mấy từ “sorry, sorry” trong khi cô Da Trắng biểu cô Chà Là làm lại. Tôi cố kìm cơn đau, kiên nhẫn chờ đợi thì một lần nữa, cô Chà Là đâm kim vào tay tôi như muốn xé da xé thịt, dù cô Da Trắng reo lên là đã ok, tôi lại la lên vì quá đau, và trong phút giây đó nếu được đạp chân đá cô Chà Là ra cửa tôi cũng làm ngay cho hết cơn đau và bực tức.

 

Tôi giận hờn không thèm nói một lời dù trước khi bước ra khỏi phòng, Chà Là đã cẩn thận kéo tấm mền cho tôi nằm nghỉ và nhẹ nhàng nói “bye” với nụ cười hối lỗi. Rồi thì mấy viên thuốc Advil đã bắt đầu có hiệu quả. Tôi thấy bớt nhức đầu và lim dim mắt tìm giấc ngủ. Đang mơ màng ngon giấc thì linh tính như có ai đứng bên giường, tôi mở mắt thấy Chà Là ngay bên cạnh. Tôi tỏ vẻ khó chịu, nhủ thầm “đồ vô duyên”, rồi đưa mắt dò hỏi thì nó lại ríu rít xin lỗi vì đã làm tôi dở dang “giấc điệp” và thông báo sẽ gắn dây truyền nước vào cánh tay cho tôi. Tôi nhìn khắp phòng, có ý tìm Da Trắng nhưng chẳng thấy đâu, Chà Là hiểu ý tôi và giải thích chỉ có mình nó làm nhiệm vụ này, vì Da Trắng đang bận với một bệnh nhân khác. Tôi lạnh lùng gật đầu, và cũng quay mặt vào tường như lần trước, với tinh thần có thể sẽ có đau đớn đang chờ đợi, còn Chà Là chắc cũng như tôi, từ kinh nghiệm hồi nãy, nó có vẻ cẩn thận hơn, chậm rãi và tỉ mỉ hơn với từng động tác, cuối cùng thì cũng xong, dù chẳng êm ả gì! Tôi tự hỏi, nó là một đứa yếu tay nghề, vì mới ra trường, hay vì hồi đầu đã sơ xuất làm tôi giận dữ đã làm cho nó hồi hộp rụt rè, nên không làm nổi một việc mà người y tá nào cũng thành thạo? Tôi vẫn chẳng nói với nó nửa lời, tiếp tục… giận hờn, cố tìm lại giấc ngủ, trong khi nó dọn dẹp đồ nghề, khi rời khỏi phòng còn chúc tôi ngủ ngon.

 

Lần này thì tôi ngủ ngon thật, cũng phải một vài tiếng sau mới tỉnh dậy khi trời sập tối, một cô y tá khác tươi cười bước vào đo nhiệt độ và mang cho tôi khay thức ăn. Tôi ăn chút bánh mì với peanut butter, một ly nước cam và thấy tỉnh táo hơn, trả lời mấy câu hỏi của cô y tá thật thoải mái. Tôi chợt nhớ đến Chà Là và thấy mình đã hơi bất công với nó. Chắc tại nó xuất hiện không đúng nơi, đúng lúc, khi mà tôi mới nhập viện trong cơn đau hành hạ, tinh thần còn nhiều bất ổn, lo sợ, mà nó thì lại vụng về gây mất thiện cảm nơi tôi chăng? Giờ thì cơn đau đã bớt nhiều, mọi việc cũng đã ổn định khi bác sĩ cho biết tôi bị insect bites gây nhiễm độc trên da, tôi mới có dịp nhớ lại thái độ của mình với Chà Là và áy náy, tự giận mình vô cùng.

 

Nó nào có lỗi gì đâu chứ, ngoài cái thiếu kinh nghiệm của một cô gái trẻ mới ra trường? Tôi nhớ đến con gái của mình, cũng đang làm y tá ở thành phố bên cạnh. Nó đã kể cho tôi nghe những câu chuyện vui, hoặc chuyện xúc động của các bệnh nhân, nói chung là những kỷ niệm đẹp, vậy mà giờ đây tôi vừa cho Chà Là một “kỷ niệm xấu”, chắc hẳn nó đang buồn lắm.

 

Cả đêm hôm ấy, tôi ngủ chập chờn, chỉ mong mau tới sáng để gặp Chà Là, chắc chắn tôi sẽ mỉm cười trước, (để bù lại cái khuôn mặt chắc là xấu xí, khó ưa của tôi khi nổi giận), rồi sẽ hỏi thăm thân mật và mong nó hiểu cho tâm trạng của tôi.

 

Trời sáng dần, bên ngoài các y tá, bác sĩ bắt đầu rộn ràng qua lại, mới 5 giờ sáng mà họ chộn rộn với những hồ sơ thăm bệnh, đi hỏi han từng giường. Một cô y tá bước vào để đo nhiệt độ và lấy máu một lần nữa theo lệnh của bác sĩ. Cô này có vẻ đứng tuổi, dễ gần gũi, nên tôi tính hỏi về Chà Là nhưng chẳng biết hỏi làm sao khi tôi không hề nhớ tên thật của nó. Còn nếu nói chung chung là người “da màu” làm ở đây chiều qua, thì liệu cô này có biết không?

 

Cứ như thế, suốt một buổi sáng đến tối, khi thì có người mang thuốc và thức ăn trưa vào phòng, khi thì người khác vào chuyển tôi qua phòng chờ CT scan, khi thì cô y tá ban sáng trở lại, tôi luôn hỏi thăm về Chà Là, ai cũng mơ hồ suy đoán, và cho câu trả lời giống nhau, rằng có thể hôm nay nó làm ca chiều, nhưng nó có được phân công vào phòng của tôi hay không thì không chắc, bởi mỗi ngày các y tá được điều đi bất cứ phòng nào mà bác sĩ cần. Tôi lại “ăn không ngon, ngủ không yên”, lòng nặng trĩu, mong chờ Chà Là xuất hiện nơi cửa phòng với đôi mắt sáng, nụ cười mắc cỡ, và làn da nâu mặn mà.

 

Trưa hôm sau, nhóm bác sĩ quyết định cho tôi về, và cho tôi một cái hẹn với một bác sĩ chuyên môn về da để tiếp tuc theo dõi. Chồng tôi đến mang theo một ít quần áo, vật dụng cá nhân cho tôi. Tôi hớn hở dọn dẹp phòng của mình, rồi chần chừ nơi hành lang để tìm Chà Là, chồng tôi đã nghe tôi kể lại câu chuyện, liền kết tội tôi:

 

– Vậy là em racist rồi đấy, thấy nó da màu rồi… ăn hiếp.

 

– Không! Không! Vạn lần không, em xin thề! Vì nó làm em đau, thì dù là da trắng da đen hay da đỏ da vàng, em cũng sẽ vẫn… nổi sùng!!!

 

Hai vợ chồng đi bộ ra ngoài sân bệnh viện, tôi hít một hơi đầy lồng ngực không khí tươi mát sau ba ngày quanh quẩn với mùi cồn, mùi thuốc, mùi… bệnh nhân, thì nghe tiếng bước chân chạy phía sau chúng tôi, dồn dập cùng với tiếng gọi:

 

– Mrs. Nguyen… Mrs. Nguyen!

Chúng tôi cùng quay đầu lại, bất ngờ, vì đó chính là Chà Là. Nó chạy đến, trao cho tôi cái dây charge iphone, hổn hển nói:

 

– Tôi đến phòng chuẩn bị vào ca mới, thì thấy cô để quên cái này, liền chạy theo đưa lại cho cô, vì nó cũng khá mắc tiền, mà về nhà không có nó cũng mệt lắm đấy!

 

Tôi hiểu ra sự tình, khi nãy lúc ra về, tôi đã không nhìn thấy dây charge vì đêm qua tôi cắm nó ở góc tường, khuất phía sau bàn ăn. Cái dây charge chỉ vài chục đồng, nhưng quả thật là phiền phức nếu không có nó để xài.

 

Chồng tôi nhanh nhẩu cám ơn Chà Là, trong khi tôi say sưa ngắm nó: mắt long lanh, nụ cười hiền, và bây giờ dưới ánh sáng bên ngoài, tôi còn thấy hàm răng nó rất trắng và đều đặn, nổi bật giữa làn da nâu làm cho khuôn mặt nó thêm dễ thương dễ mến. Nó nhìn chúng tôi xua tay, ý nói là không có chi, rồi vội bước đi, không quên chúc tôi giữ gìn sức khoẻ và bằng an. Tôi ngỡ ngàng chưa kịp nói gì, chỉ biết nhìn theo dáng nhỏ bé khuất sau cánh cửa kiếng của bệnh viện, trước khi vào trong, nó quay nhìn lại chúng tôi, vẫy tay ríu rít.  Nắng chiều rực rỡ, phản chiếu trên mái tóc nó những vệt sáng và bộ đồng phục y tá nhìn xa như chiếc áo thiên thần, tôi cũng đưa hai tay lên chào lại nó.

 

Lúc ấy, tôi chợt nhớ ra mình vẫn chưa xin lỗi và hỏi tên thật của Chà Là!

 

Kim Loan

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
Tình yêu không phải là thứ ngôn ngữ nói ra, mà là ngôn ngữ để giữ kín! Tôi đã chôn kín hình ảnh đẹp nhất một đời người. Bây giờ người con gái năm xưa đang ở đâu, sống ra sao trong vạn nẽo đường trần hệ lụy. Có còn nhớ cơn mưa bong bóng chiều nào nơi hiên ngôi chùa nhỏ? Có còn tìm thấy những cơn mưa bong bóng bên đời? Hay tất cả đã phôi pha, đã trôi theo những giọt mưa bong bóng một thời đã mất?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.