Hôm nay,  

Chiếc xe cũ

25/09/202216:49:00(Xem: 4709)
Truyện ngắn

xecu

Vợ chồng chị Bông quyết định bán chiếc Acura cũ với giá 4,500 đồng. Thời buổi dịch bệnh Covid làm kinh tế thế giới đảo điên, mọi thứ đều lên giá ầm ầm, nhà cửa xe cộ nơi nào cũng hot, cũng cao giá. Như thuở yên lành “xưa” thì chiếc xe đời cũ này phải vừa bán vừa cho với giá rẻ bèo.  Ban đầu định rao bán trên net trên báo cho nhanh nhưng chị Bông chợt nhớ đến Mohamed, lần đến nhà sửa xe Acura cho chị Bông gần đây nhất Mohamed đã dặn dò: Khi nào chị muốn bán xe này thì gọi tôi. Thế là chị Bông liền nhắn tin cho anh ta.

 

Mohamed là thợ sửa xe chuyên nghiệp làm việc cho một tiệm sửa xe của đồng hương anh ta trong thành phố này. Mohamed là hàng xóm chị Bông trước kia, sau anh ta dọn nhà nơi khác gần trường học con cái nhưng tình hàng xóm vẫn còn nhờ những lần xe cộ hư hỏng vợ chồng chị Bông đều gọi Mohamed đến tận nhà xem xét hay sửa chữa nếu có thể, anh ta biết điều, luôn làm việc chân thật và giá cả hợp lý nên chị Bông rất tin cậy.

 

Mohamed đến cùng với thằng con trai tuổi độ đôi mươi, anh ta xem xét trong ngoài chiếc xe lần nữa, cho thằng con tha hồ chạy thử trong khi đứng nói chuyện với vợ chồng chị Bông ngoài sân. Người di dân đạo Hồi này chăm chỉ làm ăn và dành dụm như người Việt tị nạn chúng ta, Mohamed từng kể ước mơ khi đến Mỹ là các con sẽ ăn học nên người. Nước Mỹ chẳng phải là thiên đường hoàn hảo, cũng có bao chuyện đau buồn, nhưng nước Mỹ vẫn là thiên đường ước mơ của bao di dân trên thế giới. Thằng con lớn của Mohamed đang học đại học dự tính sẽ học y khoa. Nó đang cần có một chiếc xe.

 

Chiếc Acura đời 1999 nhưng mới chạy hơn 130 ngàn mile. Thằng con đã lái thử xe cả chục phút mới quay về, nó vừa ý thế là Mohamed trả giá chiếc xe xuống còn 4,000 đồng. Chị Bông đồng ý bán, dù có rẻ hơn ý muốn của mình nhưng chiếc xe Acura thân yêu của chị vào nhà Mohamed chị yên tâm, xe sẽ luôn luôn được sửa chữa tu bổ, sẽ chạy thêm cả chục năm nữa và nhất là có ngày chị sẽ gặp Mohamed là có ngày chị sẽ gặp lại chiếc xe. Mohamed ký check trả tiền, chị Bông trao giấy xe cho anh ta. Hai cha con ra về. Chị Bông bỗng nhiên bồi hồi, từ giây phút này người ngồi vào xe không là mình nữa khi nhìn thằng con của Mohamed mở cửa xe ngồi vào chiếc ghế mà chị đã từng ngồi và cái tay lái kia chị đã từng quen thuộc bàn tay đặt chỗ nào thoải mái nhất, thuận tiện nhất. Nó lái xe vèo một cái ra khỏi góc phố, chị phản ứng tự nhiên chạy theo vài bước làm anh Bông phải ngạc nhiên… níu áo cản lại:

 

– Ơ kìa! Bà tính chạy đi đâu đấy?

 

– Chiếc xe Acura… của em!

 

– Xe nào của bà? Title xe đã đưa cho Mohamed, tiền người ta trả bà còn cầm trong tay kìa.

 

Chị Bông vẫn còn ngẩn ngơ như người vừa… mất của:

 

– Nhưng sao em vẫn cứ tiếc chiếc xe. Em quên mất… em quên mất…

 

Anh Bông cũng ngẩn ngơ:

 

– Bà làm gì mà thất thần lên thế? Bà quên gì trong xe? Bà có vàng bạc kim cương gì đâu chứ.

 

– Em quên lúc nãy không đứng bên cạnh chiếc xe chụp vài tấm hình làm kỷ niệm giây phút cuối chiếc xe còn thuộc về mình, ở bên mình trước khi chúng ta đồng ý bán cho Mohamed.

 

Anh Bông kêu lên:

 

– Ôi giời, bán chiếc xe cũ mà bà cũng đa sầu đa cảm. Tôi biết thế nào bà cũng sẽ làm bài thơ than thở thương thương nhớ nhớ chiếc xe cũ rích ấy.

 

Chị Bông rưng rưng:

 

– Cuộc đời phù du quá, nay của mình mai của người khác.

 

Là sự trao đổi mua bán. Bà chỉ nói chuyện huề vốn. Anh Bông chỉ tay vào garage:

 

– Đó, bà tha hồ chụp hình với xe Honda Accord kia đi, sau này thành xe cũ có bán đi bà sẽ có một đống hình kỷ niệm.

 

Anh Bông vô tâm chẳng hiểu vợ gì cả. Đúng là một chiếc xe cũ rích, chiếc Acura đời 1999 ấy, người khác thì đã bán nó từ hồi nào rồi thế mà chị Bông vẫn yêu thích đi chiếc xe Acura. Nó là kỷ niệm của thằng con, là chiếc xe đầu tiên trong đời nó, khi vừa ra trường là mua ngay chiếc xe mới tinh để đi làm. Xe kiểu thể thao hai cửa, mui xe có thể mở ra đóng vào. Nó đã yêu thích nâng niu giữ gìn chiếc xe không một vết dơ bẩn từ trong ra ngoài làm chị Bông thương con thương cả… xe của con. Vậy mà đi được mấy năm nó chán và muốn mang ra dealer đổi xe khác. Chị Bông luôn thương tiếc kỷ niệm và tiếc chiếc xe còn mới mang ra dealer sẽ bị trả rẻ nên chị đưa tiền cho con để “mua lại” chiếc Acura. Bây giờ con sống ở tiểu bang khác, chiếc xe Acura càng là kỷ niệm chị chẳng muốn rời xa.

 

Thế là chiếc xe Acura thể thao đã thuộc về chị Bông người luôn lái xe với tốc độ khiêm nhường trên đường phố đôi khi bị người xe sau bực mình bóp còi giục giã. Nhà vẫn có hai xe khác, một Toyota của chị Bông và một xe truck của anh Bông mà hai vợ chồng vẫn lái đi làm, bây giờ chị Bông lái thêm chiếc Acura, đi chợ và quanh quẩn trong thành phố. Mười mấy năm qua chị vẫn dùng cả hai xe cho đến khi chiếc xe Toyota bị tai nạn, người xe sau không kịp thắng đã tông xe vào đuôi xe Toyota làm hư hỏng khá nặng nên chị Bông đã bán đi. Chiếc xe Acura còn ở lại, dù đã thuộc hàng “đồ cổ” nhưng tuổi mile thì vẫn còn trẻ.

 

Vợ chồng chị Bông đã mua một chiếc xe Honda Accord đời mới nhưng chị Bông không nỡ phế thải chiếc xe Acura ân tình này dù anh Bông đã nhiều lần thúc giục bán xe cũ để chỉ đi xe mới.

Chị Bông đã sử dụng chiếc xe Acura nhiều hơn chiếc Honda Accord. Chiếc xe Acura đã đưa chị Bông đi làm, đi các chợ búa, văn phòng bác sĩ, v.v... Chiếc xe đã trải qua bao mùa cùng chị rong ruổi ngoài đường, lúc gấp gáp hay lúc thong thả vừa lái xe vừa nhìn trời mây, nhìn cây lá bên đường. Mỗi mùa Đông chiếc xe vẫn tử tế nổ máy ngon lành dù nằm ở ngoài trời cửa kính xe lạnh đến đông đá, thành ra chiếc Honda Accord vẫn nằm thường trú trong garage thỉnh thoảng vợ chồng chị Bông mới dùng đến hay mỗi lần người thân từ phương xa về chơi chị Bông đều đưa xe Honda Accord để người nhà đi cho thoải mái và cho xe… nóng máy.

 

Anh Bông nói phải chi nhà mình ở trong farm đất rộng riêng tư thì sẽ dành một chỗ làm… bảo tàng viện cho chị Bông trưng bày chiếc xe Acura làm kỷ niệm suốt đời. Anh năn nỉ chị Bông bán xe cho đỡ chật sân thậm chí đe dọa nếu không đi xe Honda Accord thì năm mười năm nữa chiếc xe Honda Accord lại là tuổi đời già nhưng tuổi mile trẻ, lại là chiếc xe kỷ niệm, là “đồ cổ” trong nhà không bao giờ dứt thì chị Bông mới đành lòng đồng ý bán chiếc xe Acura.

 

Chị Bông vào nhà mà lòng vẫn ngậm ngùi thương tiếc chiếc xe Acura. Cầm vài ngàn trong tay sẽ tiêu hết nhưng hình ảnh thân thương thì đã xa. Chiếc xe Acura đến với nhà này khi còn mới còn trẻ và chỉ hư cũ già đi theo thời gian, gần gũi như người thân, là chiếc xe may mắn và dễ thương, suốt 20 năm trời không xảy ra tai nạn lớn nhỏ nào.

 

Chị Bông hỏi thầm một mình: “Xe ơi, về với người mới rồi có nhớ tôi không? Cám ơn xe đã là “bạn đường” đầu tiên và yêu mến của con tôi, ghi dấu thời điểm con tôi mới đi làm kiếm tiền, ngày ngày xe đã đưa nó đi làm và về nhà. Cám ơn xe lại là “bạn đường” của tôi, đã cùng tôi đi tiếp bao nhiêu dặm đường, bao nhiêu tháng năm, bao lúc thời tiết nóng lạnh gió mưa trong thành phố nhỏ này. “Bạn đường” ơi, bạn đã gần gũi mẹ con tôi, đã đưa chúng tôi đi đến nơi về đến chốn bình yên thế nào thì nay về với người ta cũng yên bình thế ấy nhá”.

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.