Hôm nay,  

Lan man đôi chút về “Đuổi Bắt Một Mùi Hương”

12/03/202611:15:00(Xem: 154)
blank

Lan man đôi chút về “Đuổi Bắt Một Mùi Hương

Nguyên Giác – Phan Tấn Hải và mùi hương thoảng qua của chữ

  

Vũ Đình Trọng

  

Có những người đi qua đời, để lại tiếng cười rổn rảng. Có người để lại chồng sách dày cộp. Còn Nguyên Giác - Phan Tấn Hải để lại một thứ mong manh hơn nhiều: Một mùi hương!

Đó là mùi hương của chữ nghĩa. Nó chỉ thoảng qua, không ai nắm được, chỉ cảm nhận sự hiện hữu của nó khi ta sống chậm lại một chút.

Ông là nhà báo lão luyện của Việt Báo, từng lăn lộn đủ đường trong nghề, nên tôi nghĩ chữ ông gọn, sạch, và không màu mè.

Chữ của Phan Tấn Hải không cho phép tôi đọc vội.

Đọc chậm tôi mới thấy, đằng sau chữ của ông là một khoảng lặng lạ lùng. Lặng đến mức khiến mình dừng lại, thở một hơi, rồi chợt nghĩ về thân phận con người.

Ngay từ “Lời Thưa”, ông đã nói thẳng, ông không viết truyện theo nghĩa thông thường. Ông viết để tan ra, để không còn là “tôi”, để những con chữ trở thành dòng chảy, biến thành cổ tích cho mai sau.

Ông nói như một người đã đi qua biết bao phiền muộn. Cuối cùng chọn nhìn đời bằng đôi mắt thiền.

Mỗi truyện của ông là một kiếp sống ông đã đi qua, một lần tái sinh. Và mỗi lần tái sinh ấy, cái tôi lại mỏng đi, mỏng thêm, mỏng đến tận cùng chỉ còn lại chữ. Ông không viết truyện, ông thả chim trong lòng mình bay, chỉ mong cuộc đời đẹp thêm chút ít.

Ông có giọng kể bình dị, gần như nói chuyện với chính mình. Không hoa mỹ, không cố gắng làm người đọc xúc động bằng những cú twist kịch tính. Đời và đạo trong chữ ông không đối lập, cũng chẳng hòa tan thành một; chúng chỉ lặng lẽ nằm cạnh nhau, như hai người bạn già ngồi uống trà ngắm nắng chiều.

Vì thế, chữ ông cụ thể mà mênh mang: một câu kinh, một hơi sợ hãi, một cơn bệnh chẳng của riêng ai. Giản dị thôi, nhưng ẩn sau là cả một tâm trí đã từng quan sát thế gian bằng ánh sáng của hơi thở thiền.

Trong “Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh”, ông viết về cô bé gầy gò giữa đời sống điên dại, tiền tàn phế chẳng đủ sống. Rồi ông khẽ bảo cô: “Em phải tập nói chuyện với hư vô hằng đêm, hằng ngày... Cứ gọi tên nó ra mà hỏi chuyện, như một người bạn. Đừng giận dữ bao giờ cả. Khi nào nó hành đau quá thì thôi, tìm cách ngủ.

Câu nói làm lạnh sống lưng, rồi ấm lòng. Nhà báo trong ông ghi lại sự thật phũ phàng. Còn người thiền trong ông đặt tay lên vai cô bé, truyền chút hơi ấm cuối cùng, để cô bé ra đi trong nụ cười. Cái chết ở đây không đáng sợ, chỉ nhẹ nhàng như một hơi thở dài. Tôi nghĩ, hiếm có nhà văn nào viết về sự mất mát mà vẫn giữ được sự dịu dàng đến thế.

 

Hay trong “Nghe Tiếng Chim Bên Rừng Miến Điện”, câu chuyện người lính Nhật mặc áo cà sa, chôn đồng đội, rồi ở lại hồi hướng công đức. Tiếng chim két vang lên như lời gọi về quê cũ, nhưng người ấy đã chọn ở lại con đường giải thoát. Đọc xong, tôi không còn phân biệt đâu là truyện, đâu là đời thực nữa. Chỉ thấy tiếng chim ấy vang trong chính mình - tiếng gọi của giác ngộ, nhẹ mà dai dẳng.

Rồi cái gần gũi trong “Vết Son Ơi, Quên Nhau Là Chuyện Khó” thật đau lòng. Chỉ một vết son nhỏ xíu còn lại trong ký ức, không tô vẽ bi kịch, chẳng than vãn. Nhà báo tỉnh táo không muốn lãng mạn hóa quá khứ. Thiền giả cũng không vội bảo “buông”. Ông chỉ lặng lẽ thừa nhận: Quên nhau khó thật. Có những thứ phải chờ nó tự mòn, khi đủ chín muồi.

Còn truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” – được chọn làm tên tập truyện – có lẽ là truyện nói nhiều nhất về chính Phan Tấn Hải.

Người đàn ông trong một chiều đi bộ trên phố, ông chợt ngửi thấy mùi hương cũ: mùi tóc người xưa, mùi nhang khói chùa quê, mùi áo mẹ giặt ngày bé. Ông đi tìm, đuổi theo trong gió, trong nắng. Càng tìm càng chẳng thấy. Mãi đến khi nhắm mắt lại, ông mới biết: mùi hương ấy vốn ở trong ông từ lâu, chỉ là ông quên mất thôi.

Tôi cũng từng đuổi bắt ký ức: Một mùi phở buổi sáng Sài Gòn cũ, một mùi khói nhang chùa quê, một mùi tóc ai từng làm tim tôi ngây dại. Càng đi tìm, mùi hương càng xa. Chỉ khi dừng lại, nhắm mắt, mới thấy chúng chưa bao giờ rời đi.

Cuối cùng tôi mới nhận ra, đuổi bắt bên ngoài là vô ích. Chỉ khi dừng lại, trở về với hơi thở hiện tại, mới thấy mọi thứ vốn sẵn ở đây. Truyện ngắn mà như một bài kệ nhỏ bằng văn xuôi.

Và tôi không phải người duy nhất cảm nhận được điều này.

Giáo sư Nguyễn Văn Sâm đặt ông ngang hàng với các cư sĩ lớn thời xưa.

“Tác giả Nguyên Giác Phan Tấn Hải xứng đáng là một cư sĩ góp nhiều công cho văn hóa Phật giáo như những tên tuổi Lê Đình Thám, Mai Thọ Truyền, Đoàn Trung Còn, Phan Văn Hùm trong quá khứ.”

T.Vấn nói chữ ông là chút lương tri còn sót lại, bàng bạc lòng nhân ái.

“Bàng bạc trong mọi sáng tác của Phan Tấn Hải là lòng nhân ái từ một cái tâm luôn hướng về tha nhân. Chữ nghĩa ông hiện diện như chút lương tri con người còn sót lại.”

Trịnh Y Thư bảo ông đứng giữa đời và đạo mà không nghiêng hẳn bên nào - chính sự dung hòa ấy làm nên con người Nguyên Giác.

Còn Nguyễn Đức Tùng thì nhận ra ông viết như thở, điềm nhiên nhất trong những người cầm bút.

Tôi nghĩ họ nói đúng. Ông không thuyết pháp trên tòa cao. Ông kể chuyện người thường bằng giọng nhân gian. Đọc ông, ta nghe tiếng kinh lẫn trong tiếng thở đời thường. Mỗi nhân vật của ông - đau, mất mát, lưu lạc - đều được ông hộ niệm bằng chữ, nhẹ mà sâu.

Khép cuốn sách lại, giữa những ngày cuối năm se lạnh, tôi nghe được hơi thở tĩnh tại của ông giữa dòng đời hối hả. Chữ ông lặng lẽ ngân vang, khẽ lay động.

Lòng nhẹ hẳn.

Nhẹ như vừa buông một mùi hương cũ.

Nhẹ như được trở về... với chính mình.

Thế thôi... cũng đủ.

  

GHI CHÚ:

Độc giả có thể vào trang Barnes & Noble:

https://www.barnesandnoble.com/

và gõ nhóm chữ "phan tan hai" hay

vào Google.com gõ nhóm chữ "duoi bat mot mui huong" sẽ ra link.

Hay là vào trực tiếp:

http://bn.com/s/9798260319826

  



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân đọc cuốn sách The Surrendered Wife của bà Laura Doyle, một best-seller, tác giả Nguyễn thị Cỏ May đã viết một bài điểm sách, đúng hơn một bài phiếm dí dỏm về quan hệ vợ chồng trong cuộc sống lứa đôi. Xin mời đọc.
Trong thế giới thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, chúng ta còn nhìn thấy những bài thơ viết về cha, về mẹ, hay về những người bạn thân như nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ … Một thế giới được tái hiện bằng chữ. Nơi đó, Đỗ Hồng Ngọc quyện vào một màn sương của hồn dân tộc. Tôi xin thú thật, tôi không biết hồn dân tộc cụ thể là gì, vì chữ này trừu tượng quá, mơ hồ quá. Nhưng tôi đã mơ hồ nhận ra trong bài Lagi Ngày Con Về, khi Nguyễn Thị Khánh Minh viết tặng nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc năm 2017, nơi đó họ Đỗ về thăm căn nhà của ngoại ở Lagi
Cuộc thư hùng nhằm tranh ngôi vị bá chủ hoàn cầu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc hiện đang diễn ra trên nhiều lĩnh vực, kinh tế, quân sự, chạy đua vào không gian, v.v. Một trong những mặt đó, và nổi bật trong thời gian vừa qua, là mặt giao thương. Trong bối cảnh đó, để cho những ai muốn tìm hiểu thêm về cuộc thương chiến này, tiến sĩ Nguyễn Văn Chữ (Chu Van Nguyen) cùng hai đồng tác giả, Nguyễn Phi Hiệp và Nguyễn Bá Lộc, đã phân tích một phần cuộc thương chiến Mỹ-Trung qua cuốn khảo luận "Một Góc Nhìn về Chiến Tranh 'Mậu Dịch' Mỹ-Trung và Hệ Quả Đến Việt Nam". Dưới đây là bài điểm sách của tác giả Nguyễn Hiền. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Như Không? Bút hiệu này gợi cho tôi liên tưởng ngay đến ngôn từ Bát Nhã của nhà Phật. "Sắc bất dị Không. Không bất dị Sắc". Giản dị mà nói: "Có tức là Không. Không tức là Có". Đứng trước cái có, cái không, như không, như có, nhà thơ Như Không đã thể hiện tinh thần Bát Nhã Ba La Mật một cách khá rõ nét:
Tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường của nhà báo Kiều Mỹ Duyên đã chính thức phát hành tại Quận Cam. Tuyển tập dày 500 trang đã gói trọn tấm lòng của một người rất mực yêu thương cuộc đời, và với quê nhà.
Kể từ năm 1963 đến nay (2021) là hơn nửa thế kỷ. Các kho lưu trữ tài liệu mật của các bộ Ngoại Giao, Quốc Phòng, và cục Tình báo Trung Ương Hoa Kỳ đã giải mật cho công chúng và giới nghiên cứu được tự do tiếp cận, vào xem hoặc truy cập điện tử, để mọi người có thể nhìn lại một khúc quanh của lịch sử Việt Nam một cách rõ ràng. Sách này gồm hai tập, tập 1 trình bày về cuộc vận động bình đẳng tôn giáo năm 1963 của Phật giáo Việt Nam và tập 2 là trình tự thời gian xảy ra cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963 ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ.
Vào thời điểm này, phải chăng thơ đã là món ăn tinh thần lỗi thời, mất hương vị quyến rũ, thua mùi phở hấp dẫn khi đói bụng? Đúng như vậy, có đói mới thèm ăn. Làm sao biết tâm tư của bạn đang đói? Hỏi thử nó có mệt mỏi, có căng thẳng, có phiền muộn chuyện đời, có ghét bỏ người khác? Nếu có, đúng rồi, nó đang đói. Thơ là món ăn tinh thần cổ truyền từ tiền sử. Nếu tiểu thuyết là bữa tiệc, truyện là bữa ăn tối, thì thơ Việt chính là phở. Một món ăn độc đáo cho bất kỳ người Việt nào tại gia hoặc tha hương.
Hiền Như Bụt là tác phẩm biên khảo về Phật Giáo, bút ký pha lẫn văn chương nhưng không phải do một tu sĩ hay một nhà nghiên cứu Phật học sáng tác mà do một trí thức khoa bảng yêu mến và quý trọng Đạo Phật viết ra. Nó là sản phẩm của 20 năm, từ 1992-2012. Hạ Long Bụt Sĩ tên thật là Lưu Văn Vịnh.
Nhân vật trong tiểu thuyết tôi là những khả thể vô thức của chính tôi (Kundera). Bởi cuối cùng là để vượt ra, vượt qua: một cái đường biên mong manh mà mênh mông đó. Ở đó, Bên kia đường biên “bản ngã” của riêng tôi chấm dứt (trang 19). Nghĩa là đạt đến vô ngã / non-self (không phải no-self). Cái đường biên đó do chính tác giả tạo ra cho mình và loay hoay tìm lối thoát, càng tìm lối thoát càng bị quấn chặt. Chỉ vượt ra, vượt qua (Gaté, gaté…paragaté…) đường biên khi có được trí Bát nhã (Prajna) thấy được ngũ uẩn giai Không, mới “độ nhất thiết khổ ách”.
Đây là một tác phẩm lịch sử từng giai đoạn của Quân Lực Việt Nam Công Hòa. Nhà biên soạn sử học Hồ Đắc Huân, đã miệt mài trong bao nhiêu năm, cô đọng, trau chuốt, giao tiếp với nhiều nguồn tin tức khác nhau, cộng với hành trình từ bản thân, là chứng nhân lịch sử; đã cho ra mắt một tác phẩm để đời!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.