Hôm nay,  

Lan man đôi chút về “Đuổi Bắt Một Mùi Hương”

12/03/202611:15:00(Xem: 199)
blank

Lan man đôi chút về “Đuổi Bắt Một Mùi Hương

Nguyên Giác – Phan Tấn Hải và mùi hương thoảng qua của chữ

  

Vũ Đình Trọng

  

Có những người đi qua đời, để lại tiếng cười rổn rảng. Có người để lại chồng sách dày cộp. Còn Nguyên Giác - Phan Tấn Hải để lại một thứ mong manh hơn nhiều: Một mùi hương!

Đó là mùi hương của chữ nghĩa. Nó chỉ thoảng qua, không ai nắm được, chỉ cảm nhận sự hiện hữu của nó khi ta sống chậm lại một chút.

Ông là nhà báo lão luyện của Việt Báo, từng lăn lộn đủ đường trong nghề, nên tôi nghĩ chữ ông gọn, sạch, và không màu mè.

Chữ của Phan Tấn Hải không cho phép tôi đọc vội.

Đọc chậm tôi mới thấy, đằng sau chữ của ông là một khoảng lặng lạ lùng. Lặng đến mức khiến mình dừng lại, thở một hơi, rồi chợt nghĩ về thân phận con người.

Ngay từ “Lời Thưa”, ông đã nói thẳng, ông không viết truyện theo nghĩa thông thường. Ông viết để tan ra, để không còn là “tôi”, để những con chữ trở thành dòng chảy, biến thành cổ tích cho mai sau.

Ông nói như một người đã đi qua biết bao phiền muộn. Cuối cùng chọn nhìn đời bằng đôi mắt thiền.

Mỗi truyện của ông là một kiếp sống ông đã đi qua, một lần tái sinh. Và mỗi lần tái sinh ấy, cái tôi lại mỏng đi, mỏng thêm, mỏng đến tận cùng chỉ còn lại chữ. Ông không viết truyện, ông thả chim trong lòng mình bay, chỉ mong cuộc đời đẹp thêm chút ít.

Ông có giọng kể bình dị, gần như nói chuyện với chính mình. Không hoa mỹ, không cố gắng làm người đọc xúc động bằng những cú twist kịch tính. Đời và đạo trong chữ ông không đối lập, cũng chẳng hòa tan thành một; chúng chỉ lặng lẽ nằm cạnh nhau, như hai người bạn già ngồi uống trà ngắm nắng chiều.

Vì thế, chữ ông cụ thể mà mênh mang: một câu kinh, một hơi sợ hãi, một cơn bệnh chẳng của riêng ai. Giản dị thôi, nhưng ẩn sau là cả một tâm trí đã từng quan sát thế gian bằng ánh sáng của hơi thở thiền.

Trong “Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh”, ông viết về cô bé gầy gò giữa đời sống điên dại, tiền tàn phế chẳng đủ sống. Rồi ông khẽ bảo cô: “Em phải tập nói chuyện với hư vô hằng đêm, hằng ngày... Cứ gọi tên nó ra mà hỏi chuyện, như một người bạn. Đừng giận dữ bao giờ cả. Khi nào nó hành đau quá thì thôi, tìm cách ngủ.

Câu nói làm lạnh sống lưng, rồi ấm lòng. Nhà báo trong ông ghi lại sự thật phũ phàng. Còn người thiền trong ông đặt tay lên vai cô bé, truyền chút hơi ấm cuối cùng, để cô bé ra đi trong nụ cười. Cái chết ở đây không đáng sợ, chỉ nhẹ nhàng như một hơi thở dài. Tôi nghĩ, hiếm có nhà văn nào viết về sự mất mát mà vẫn giữ được sự dịu dàng đến thế.

 

Hay trong “Nghe Tiếng Chim Bên Rừng Miến Điện”, câu chuyện người lính Nhật mặc áo cà sa, chôn đồng đội, rồi ở lại hồi hướng công đức. Tiếng chim két vang lên như lời gọi về quê cũ, nhưng người ấy đã chọn ở lại con đường giải thoát. Đọc xong, tôi không còn phân biệt đâu là truyện, đâu là đời thực nữa. Chỉ thấy tiếng chim ấy vang trong chính mình - tiếng gọi của giác ngộ, nhẹ mà dai dẳng.

Rồi cái gần gũi trong “Vết Son Ơi, Quên Nhau Là Chuyện Khó” thật đau lòng. Chỉ một vết son nhỏ xíu còn lại trong ký ức, không tô vẽ bi kịch, chẳng than vãn. Nhà báo tỉnh táo không muốn lãng mạn hóa quá khứ. Thiền giả cũng không vội bảo “buông”. Ông chỉ lặng lẽ thừa nhận: Quên nhau khó thật. Có những thứ phải chờ nó tự mòn, khi đủ chín muồi.

Còn truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” – được chọn làm tên tập truyện – có lẽ là truyện nói nhiều nhất về chính Phan Tấn Hải.

Người đàn ông trong một chiều đi bộ trên phố, ông chợt ngửi thấy mùi hương cũ: mùi tóc người xưa, mùi nhang khói chùa quê, mùi áo mẹ giặt ngày bé. Ông đi tìm, đuổi theo trong gió, trong nắng. Càng tìm càng chẳng thấy. Mãi đến khi nhắm mắt lại, ông mới biết: mùi hương ấy vốn ở trong ông từ lâu, chỉ là ông quên mất thôi.

Tôi cũng từng đuổi bắt ký ức: Một mùi phở buổi sáng Sài Gòn cũ, một mùi khói nhang chùa quê, một mùi tóc ai từng làm tim tôi ngây dại. Càng đi tìm, mùi hương càng xa. Chỉ khi dừng lại, nhắm mắt, mới thấy chúng chưa bao giờ rời đi.

Cuối cùng tôi mới nhận ra, đuổi bắt bên ngoài là vô ích. Chỉ khi dừng lại, trở về với hơi thở hiện tại, mới thấy mọi thứ vốn sẵn ở đây. Truyện ngắn mà như một bài kệ nhỏ bằng văn xuôi.

Và tôi không phải người duy nhất cảm nhận được điều này.

Giáo sư Nguyễn Văn Sâm đặt ông ngang hàng với các cư sĩ lớn thời xưa.

“Tác giả Nguyên Giác Phan Tấn Hải xứng đáng là một cư sĩ góp nhiều công cho văn hóa Phật giáo như những tên tuổi Lê Đình Thám, Mai Thọ Truyền, Đoàn Trung Còn, Phan Văn Hùm trong quá khứ.”

T.Vấn nói chữ ông là chút lương tri còn sót lại, bàng bạc lòng nhân ái.

“Bàng bạc trong mọi sáng tác của Phan Tấn Hải là lòng nhân ái từ một cái tâm luôn hướng về tha nhân. Chữ nghĩa ông hiện diện như chút lương tri con người còn sót lại.”

Trịnh Y Thư bảo ông đứng giữa đời và đạo mà không nghiêng hẳn bên nào - chính sự dung hòa ấy làm nên con người Nguyên Giác.

Còn Nguyễn Đức Tùng thì nhận ra ông viết như thở, điềm nhiên nhất trong những người cầm bút.

Tôi nghĩ họ nói đúng. Ông không thuyết pháp trên tòa cao. Ông kể chuyện người thường bằng giọng nhân gian. Đọc ông, ta nghe tiếng kinh lẫn trong tiếng thở đời thường. Mỗi nhân vật của ông - đau, mất mát, lưu lạc - đều được ông hộ niệm bằng chữ, nhẹ mà sâu.

Khép cuốn sách lại, giữa những ngày cuối năm se lạnh, tôi nghe được hơi thở tĩnh tại của ông giữa dòng đời hối hả. Chữ ông lặng lẽ ngân vang, khẽ lay động.

Lòng nhẹ hẳn.

Nhẹ như vừa buông một mùi hương cũ.

Nhẹ như được trở về... với chính mình.

Thế thôi... cũng đủ.

  

GHI CHÚ:

Độc giả có thể vào trang Barnes & Noble:

https://www.barnesandnoble.com/

và gõ nhóm chữ "phan tan hai" hay

vào Google.com gõ nhóm chữ "duoi bat mot mui huong" sẽ ra link.

Hay là vào trực tiếp:

http://bn.com/s/9798260319826

  



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có Tự ngã không? Đức Phật dạy: Có nghiệp được tạo tác, có quả dị thục được lãnh thọ, nhưng không có người tạo tác, không có người lãnh thọ. Phật giáo không cho có cái gọi là Tự ngã, tiểu ngã, đại ngã, linh hồn, nhưng tin có “Nghiệp mang theo” để “trả quả”. Cái gì mang Nghiệp theo? Thần thức tái sinh, luân hồi?
Cuốn Hồi Ký dày khoảng 500 trang, khổ lớn, với phần biên tập và thiết kế sách của Trịnh Y Thư, phần thiết kế bìa của Nina Hòa Bình Lê, và gồm 7 phần chính, ngoài Lời Ngỏ và Kết Từ. Phần I, tác giả nhớ lại thời còn ở Hà Nội trước năm 1954 với bố mẹ và anh chị; Phần II kể về chuyến di cư đầu đời một thân một mình của cô gái 16 tuổi từ Hà Nội vào Sài Gòn, lập gia đình và những cơ duyên đưa đẩy vào ngành nghệ thuật điện ảnh Miền Nam trước năm 1975; Phần III kể chuyện lưu vong ra hải ngoại trong biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, làm người tị nạn Việt Nam đầu tiên tại Canada, với hai bàn tay trắng làm lại cuộc đời và những phấn đấu gian lao cực khổ để bước vào sân khấu điện ảnh lộng lẫy của Hollywood; Phần IV thuật lại những chuyện vinh quang trong sự nghiệp điện ảnh và những buồn vui của bản thân, gia đình, và những mối giao tình với bạn bè trong cuộc sống tại Hoa Kỳ; Phần V kể chuyện “đứng dậy, đứng thẳng, đi tới” sau những lần vấp ngã để trở thành nhà diễn thuyết khắp thế giới,
“Nước hiện cũng ở quanh tôi, quanh anh chị. Nó ở ngay trang sách này mà ta đang đọc. Ở trong màn hình tôi đang nhìn, trong bàn phím máy computer tôi đang gõ, ở trong cái áo cái quần tôi đang mặc, trong bức tranh trên trên tường…, kể cả trong cái đinh đóng trên đó. Tôi không thấy nó vì tôi ít khi chịu khó nhìn kỹ để thấy nó. Nhưng có điều bây giờ tôi biết rất rõ rằng: không có nước thì cái thằng tôi này cũng không có; không có nước thì cũng không có anh, không có chị ngồi đó mà đọc trang sách này. Cái bàn, cái ghế, cái cây, cái đám mây ngoài kia… cũng không tuốt.” (tr. 158) Không chỉ có vậy đâu mà còn nhiều nữa. Văn Công Tuấn, trong tác phẩm “Chớ Quên Mình Là Nước,” đã dẫn người đọc từ chuyện đất và nước trong đời thường, trong khoa học, trong văn chương tới chuyện đất và nước trong lãnh vực quốc gia dân tộc, từ chuyện đất và nước trong triết học với bản thể và diệu dụng của nước, bước sang chuyện lấy cơ duyên đất và nước để nói đến chuyện thực chứng tâm linh để giác ngộ và giải thoát
Tôi cố ý tìm tòi và trích dẫn nhiều ý kiến của Nguyễn Hiến Lê và cảm nhận về từng tác phẩm Nguyễn Hiến Lê của nhiều tác giả khác. Tôi rất mong được cung cấp càng nhiều thông tin, sự kiện, chi tiết liên quan đến tác phẩm càng tốt, để tiện việc tham khảo và nghiên cứu về Nguyễn Hiến Lê.
Kể từ tập thơ Vườn Dĩ Vãng ấn hành năm 1972 của thời trai trẻ phục vụ trong quân ngũ nơi quê nhà cho đến tác phẩm Hồi Sinh thực hiện năm 2020 nhưng vì trục trặc kỹ thuật, ấn hành năm 2021 nơi xứ người, nhà thơ Trần Văn Sơn đã trải qua cuộc hành trình từ những bài thơ xuất hiện trên trang báo ở Sài Gòn vào giữa thập niên 60 cho đến thời điểm ấn hành tuyển tập nầy với thi ca hơn nửa thế kỷ.
Trong tuyển tập “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” có nhiều bài rất giá trị mà cũng khó tìm, như bài “Lời Giới Thiệu Luận Án Tiến Sĩ Phật Học Đại Học Bihar - Ấn Độ, 1961 Của Tỳ Kheo Thích Minh Châu: So Sánh Kinh Trung A Hàm Chữ Hán và Kinh Trung Bộ Chữ Pali do vị Viện Trưởng, Tân Tòng Lâm Nalanda S. Mookerjee viết vào ngày 23 tháng 3 năm 1964, và Thích Nữ Trí Hải dịch Việt. Hoặc như bài “Huyền Trang Và Công Cuộc Thỉnh Kinh Vô Tiền Khoáng Hậu Của Nhân Loại” của học giả Nguyễn Hiến Lê, và bài “Như Lai Vô Sở Thuyết” của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan.
Khi đọc bài “Bên Bờ Tử Sinh” của nữ văn sĩ Đỗ Dung thuộc Ban Điều Hành diễn đàn Minh Châu Trời Đông, tôi cũng thấy lòng nhẹ nhàng theo, tác giả bị căn bệnh hiểm nghèo bác sĩ nói chỉ sống thêm vài năm nữa, mà nhờ nhiếp tâm thiền định, chẳng những thoát khỏi cây cầu sinh tử mà tác giả còn sống yêu đời và trở thành một nhà văn với nhiều sáng tác đi vào lòng độc giả.
Nguyễn Hưng Quốc cho rằng “Nhà thơ không làm ra chữ, chính chữ làm nên nhà thơ.” Vế thứ hai của bài thơ này thì có vẻ dễ hiểu, bởi vì chính người làm ra bài thơ thì mới được gọi là nhà thơ. Nhưng vế đầu của bài thơ thì không dễ hiểu tí nào cả, bởi vì “nhà thơ không làm ra chữ,” thì nhà thơ làm ra gì? Có lẽ chúng ta nên quay lại mật thất thứ hai trong đó ghi những bí quyết làm thơ thì chắc có câu trả lời. Đúng vậy, trong mật thất thứ hai, Nguyễn Hưng Quốc nói anh “hóa kiếp thành chữ,” và “nhập thể vào chữ.” Bởi thế, nhà thơ không còn đứng ngoài chữ để nói mình làm ra chữ. Nhà thơ là chữ. Chữ là nhà thơ. Và do vậy, nhà thơ họ Nguyễn mới nói “Bao giờ hắn cũng muốn viết một cái gì đó, nhưng chỉ khi hắn không viết, hắn mới thực là nhà thơ.”(649) Cao siêu! Đây quả là cảnh giới thượng thừa của nghệ thuật. Trong “909 Bài Thơ Ba Dòng” có nhiều điều khác mà Nguyễn Hưng Quốc cảm tác về tình yêu, chuyện vợ chồng, biển, sóng nước, mây, gió, trăng, mưa, mùa thu, lá vàng, nắng, hoa, sương đêm,
Đọc những truyện ngắn Trần Doãn Nho viết từ trước 1975 đến thời gian gần đây, có thể thấy anh sáng tác trong ý thức sâu sắc về thể loại và nghệ thuật viết truyện ngắn. Truyện của anh luôn có sự đầu tư công phu về ý tưởng, hình ảnh, ẩn dụ, chủ đề… lồng trong cấu trúc chặt chẽ của tổng thể, trong đó các yêu cầu về miêu tả, tường thuật, đối thoại, diễn tiến, tư tưởng giữ một tỷ lệ hài hoà và hữu hiệu.
Nội dung của 60 bài pháp được nữ sĩ Ryoun Jokan ghi chép lại trong suốt năm nhập thất (đại kết thất) 1690, trước khi Thiền Sư Bankei Yotaku viên tịch 3 năm, là những việc hỏi đáp giữa Thầy và trò, giữa Thiền Sư và võ sĩ đạo, giữa người mù và người sáng mắt, giữa chấp có và chấp không v.v… chung quy là Tâm ấy chẳng sanh và Tâm ấy chẳng diệt. Tâm ấy cũng còn gọi là Phật Tâm hay Tâm Phật không sanh, Tâm Phật không diệt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.