Hôm nay,  

Tha Thứ

25/01/200800:00:00(Xem: 14045)

Đời sống nghiêng về phía hưởng thụ đã khiến cho ta không có nhiều cơ hội để nuôi dưỡng và bảo vệ những đức tính quý báu trong tâm hồn, thậm chí ta còn liều lĩnh chấp nhận hư hao những hạt giống tốt đẹp ấy để đổi lấy những thỏa mãn quyền lợi vật chất. Khi đời sống tinh thần trở nên yếu kém thì chắc chắn ta sẽ gây ra ít nhiều những vụng về trong cách hành xử với những người chung quanh, hay lầm lỡ trượt chân vào cạm bẫy.

Lúc đầu ta hay có thói quen đổ thừa cho hoàn cảnh, trách đời trách người, nhưng khi tâm tư được lắng đọng thì ta mới thấy rõ chính nhận thức sai lầm và nội lực yếu đuối của ta mới là nguyên nhân gốc rễ gây ra tất cả những vụng về, lầm lỡ đó. Vừa mặc cảm ăn năn, vừa hốt hoảng lo sợ, tâm tư vốn sa sút giờ lại càng sa sút hơn. Nếu không có cánh tay hết lòng nâng đỡ của người thương yêu đưa tới, mà còn phải chịu thêm áp lực của những người chưa hiểu chưa cảm thông, thì có thể ta sẽ lún sâu thêm vào vũng lầy lầm lỗi hay sẽ chọn tới giải pháp tồi tệ nhất để mong tìm cho mình lối thoát.

Tôi được nghe kể về một em sinh viên vì không được thỏa mãn điểm thi, cho rằng các thầy cô đã cố tình chèn ép mình, nên đã cầm dao chém rất hung bạo vào ban giám hiệu nhà trường. Sự cố đáng tiếc này đã gây xáo trộn rất lớn trong dư luận, thầy cô và bạn bè đã hoàn toàn thất vọng nên gần như tẩy chay em, gia đình đã trách giận và không muốn nhìn mặt em, những người chung quanh đã không tiếc lời cay đắng buộc tội và háo hức muốn trừng phạt em một bản án tù xứng đáng. Kết quả là vài tuần sau đó em đã lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng và trở thành bệnh nhân tâm thần cho đến nay.

Đúng là em đã mắc phạm sai lầm, lỗi của em có thể bị xem nặng hơn vì em đã từng là người của công chúng, được mệnh danh là học sinh gương mẫu của tỉnh, đại diện cho thế hệ trẻ năng động và sáng tạo qua các cuộc thi tài năng trên kênh truyền hình trung ương. Nhưng nếu nhìn cho thấu suốt ta sẽ thấy được hành động sai lầm của em hôm nay không chỉ của riêng bản thân em thôi, nó còn liên hệ sâu xa đến nhiều đối tượng khác đã và đang ảnh hưởng đến đời sống của em như gia đình, bạn bè, học đường, tôn giáo, an ninh, kinh tế và nhiều thứ khác nữa.

Ta không thể nào nói em là một cá thể tồn tại biệt lập, không có liên can gì tới ta. Không đâu, tất cả chúng ta đều có một phần trách nhiệm trong đó, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Nếu gia đình chăm sóc đời sống tinh thần của em kỹ lưỡng hơn, bạn bè và môi trường chung quanh tiết chế được những năng lượng tiêu cực hơn, tôn giáo kịp thời đem tới cho em những phép thực tập có khả năng chế ngự những cảm xúc trong lòng hơn, học đường trao truyền cho em đầy đủ vốn liếng đạo đức và có tình thầy trò hơn, an ninh xã hội quản lý chặt chẽ hơn các nguồn phim ảnh hay trò chơi điện tử có tính chất bạo động, kinh tế phát triển cân đối hơn để con người bớt bận rộn mà có nhiều cơ hội tìm hiểu và thương nhau nhiều hơn… thì chắc là em sẽ không dễ lạc vào nẻo đường tăm tối như vậy.

Ta nỡ đổ hết trách nhiệm này lên vai em thì làm sao em gánh nổi. Em sẽ gục ngã mà mất hết tương lai và ta cũng sẽ mất dần những người em tiếp nối ta đi về tương lai. Những người em đó là tương lai của chúng ta đó. Em đã mắc phạm sai lầm và em cần được cứu giúp, đó là con đường thoát cho em và cho cả nhân loại. Ta đừng để sự giận hờn và thất vọng quá mức khiến ta trở thành kẻ vô trách nhiệm, để rồi ngoảnh mặt làm ngơ hay thẳng tay trừng trị hết những người em nhất thời non dại như thế.

Ta cũng đừng cho mình cái quyền lên án buộc tội kẻ khác. Trong Phúc Âm, chúa Jesus đã nhắc nhở: “Ai thấy mình vô tội thì hãy cứ ném đá vào người đàn bà lang chạ này!”. Chúng ta chỉ có thể cầm súng bắn vào đầu người kia khi chúng ta cố nghĩ rằng người kia là ác quỷ, còn khi chúng ta thấy người kia vẫn là một con người, vẫn cần được hiểu và được thương, thì chúng ta không thể nào bóp cò được. Ai là ác quỷ, ai là con người" Nếu chúng ta vẫn còn mắc phải những lầm lỡ, dù người đời chưa hay biết hoặc chưa phanh phui, thì chúng ta không thể nào tự cho mình là trong sạch mà tùy tiện dán nhãn hiệu xấu xa lên đầu kẻ vừa phạm lỗi. Hãy cho người kia một cơ hội để chuyển hóa, vì như vậy cũng chính là ta đã tự cho mình một nẻo thoát trong tương lai.

Cho nên tha thứ là chất liệu quan trọng của bản chất thương yêu. Khi thiết lập bất cứ một liên hệ tình cảm nào mà ta ngây ngô nghĩ rằng người kia chắc chưa từng lầm lỡ hay sẽ không bao giờ gây ra lầm lỡ thì ta sẽ khổ và sẽ làm người thương của ta khổ. Đời sống còn chìm trong lãng quên thì không thể tránh khỏi hành vi không tự chủ. Vấn đề là ta có khả năng chấp nhận và tha thứ rồi tìm cách giúp họ vượt thoát tình trạng hay không, chứ không phải mong muốn người kia toàn hảo thì ta mới có thể thương yêu được.

Tất nhiên là tùy vào mức độ phạm sai lầm của người kia mà ta nên thể hiện cách tha thứ nào hiệu quả nhất, tại vì điều đó cũng có tính chất quyết định cho sự chuyển hóa hay khinh lờn của đối phương. Cho dù cách thức nào đi chăng nữa, thậm chí cả sự lựa chọn không tha thứ thì ta hãy đừng quên tự hỏi mình một câu hỏi quan trọng. Ta làm như vậy là vì người kia hay vì chính ta" Coi chừng ta bị thúc đẩy bởi sự tự ái hay thương tổn của bản ngã ích kỷ trong lòng mà cứ ngỡ là vì người kia.

Nếu thật sự vì vận mệnh của người kia thì ta phải đủ sáng suốt và can đảm để thu gọn cảm xúc buồn giận trách móc của mình, mà tìm cách ứng xử với người kia như thế nào để họ sớm hồi phục. Chỉ cần kiểm tra lại tâm ý, lời nói và hành động của mình có xuất phát từ tình thương hay không, là ta đủ yên tâm để làm quyết định. Cho dù người kia có đứng ra bày tỏ sự ăn năn hối cải hay không thì ta cũng nên nhớ rằng: đó chỉ là hình thức để ta thấy rõ mức độ muốn sửa chữa những sai lầm, và cũng là một biên bản ngầm ký kết cho sự hợp tác giúp đỡ nhau. Ta đừng để kẹt vào những hình thức hay dở đó mà không thấy được trái tim của người kia. Ta đã từng chứng kiến có rất nhiều người sẵn sàng buông xuôi tất cả nếu người phạm lỗi chịu quỳ xuống cầu khẩn, nhưng họ lại sẵn sàng đóng bít trái tim khi người kia không biết đem sự hối cải trong tâm ra trình diễn cho họ đẹp lòng.

Có một chú tiểu hay có thói quen ăn cắp vặt và lúc nào cũng cải chối. Nhiều lần các huynh đệ trình báo cho sư phụ biết, nhưng không thấy sư phụ nói năng gì cả. Một hôm bắt gặp quả tang, các huynh đệ liền áp giải chú tới trước sư phụ và cùng quỳ xuống kiến nghị: “Nếu sư phụ không đuổi sư em này đi thì tất cả chúng con sẽ bỏ đi hết”. Nhìn qua một lượt thấy ai cũng đang rất căng thẳng vì đầy sự phẩn uất trong lòng, còn người sư em thì rươm rướm nước mắt, vị sư phụ đã ôn tồn nói: “Ta thấy các con đã đủ khôn lớn để chọn lựa việc phải trái nên các con muốn đi đâu thì đi, ta không ngăn cản vì không còn lo lắng nữa. Riêng người sư em này còn nhỏ dại quá, chưa biết điều gì nên làm và điều gì không nên làm thì phải cần ở lại với ta thêm”. Lúc đó chú tiểu bỗng òa khóc nức nở và các huynh đệ kia ai nấy cũng đồng cảm kích trước tấm lòng vị tha cao cả của sư phụ.

Các huynh đệ đó đã hiểu ra rằng nếu có người phạm lỗi mà lập tức đón nhận bản án bị đuổi đi, thì chắc chắn trong tương lai sẽ khó có ai được ở lại tu tập với sư phụ cả. Hôm nay mình loại trừ sư em nhưng có thể ngày mai sư anh sẽ loại trừ mình. Sống mà chỉ biết dựa vào những nguyên tắc cứng nhắc thì làm sao điều phục được con người, vì nguyên tắc vốn cố định còn bản tính con người thì muôn hình vạn trạng và liên tục đổi thay.

Phải có một nhận thức thấu đáo và nội lực vững vàng thì mới làm được cái quyết định sấm sét như vị sư phụ đó. Ông đã không ngại người ngoài hiểu lầm chê trách, cũng không lo sợ các môn đồ bất mãn bỏ đi. Ông thà chấp nhận mất mát quyền lợi chứ không thể làm trái ngược với đạo lý từ bi mà ông đang sống và giảng dạy cho môn đồ. Mà cũng không phải vì đạo lý hay nguyên tắc nữa, đó chính là tình thương vô điều kiện của một người đã vượt thoát ra ngoài sự khống chế của những đòi hỏi tiện nghi ích kỷ, mà danh dự là bức tường ngăn cản sâu kín nhất.

Ta có làm được như vị sư phụ đó không" Nếu ta có một nhận thức đúng đắn về nguyên nhân sâu xa của kẻ gây ra lầm lỗi, có một trái tim rộng lớn để sẵn sàng chứa đựng thì tha thứ sẽ không còn là sự thực tập khó khăn nữa, vì bản chất của nó vốn tùy thuộc rất ít vào đối tượng. Cho nên điều kiện căn bản và tiên quyết của sự tha thứ là ta phải có tình thương chân thật với người kia. Mà tình thương chỉ có thể lớn lên được khi có sự hiểu biết. Bởi vì càng thấu hiểu về những khó khăn bế tắc, kể cả những suy nghĩ u mê dại khờ của người kia thì ta sẽ càng cảm thông và xót thương chứ không trách giận như trước kia nữa. Khi năng lượng tình thương đủ lớn thì ta lại càng biết rõ mình cần phải làm gì để giúp đỡ cho thật hay mà không làm cho người kia tổn thương hay ỷ lại.

Thà ta tha lầm thì mức độ hối tiếc sẽ thấp hơn nhiều so với chấp lỡ. Bởi khi nhận ra chính thái độ cố chấp của ta đã đẩy người kia rớt xuống vực thẳm khổ đau thì ta sẽ gánh chịu mặc cảm ăn năn suốt đời. Còn khi phát hiện ra quyết định tha thứ của ta đã không mang lại hiệu quả thì ta vẫn còn cơ hội để cứu chuộc, vì trái tim ta đang trong chiều hướng nở ra và mạnh mẽ chứ không phải co rút lại. Điều đáng sợ nhất là trong quá trình thương yêu ta đã để cho trái tim mình trở thành bé nhỏ và không còn là vật rung cảm linh thiêng nữa.

Này bạn! Tôi không có ý khuyên bạn hãy trở thành bậc thánh để sẵn sàng tha thứ hết mọi lầm lỡ của con người, nhưng nếu trái tim bạn còn sức chứa đựng thì đừng suy tính gì thêm nữa. Hãy tha thứ cho nhau đi. Tha thứ luôn là linh dược mầu nhiệm có thể trị liệu mọi nỗi khổ niềm đau cho người được tha thứ và cả chính người tha thứ. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đâu phải là bậc thánh mà cũng hiểu được rằng khả năng của trái tim ta vốn rất kỳ diệu, có thể tự chữa lành tất cả những vết thương, dù nó đã từng bị buốt đau hay rướm máu vì sự tệ bạc của con người:“Trái tim cho ta quay về nương náu, được quên rất nhiều ngày tháng tiêu điều”.

MINH NIỆM

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.