Hôm nay,  

Đạo Làm Con

27/07/201000:00:00(Xem: 10208)

Đạo Làm Con 
               
Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc
Những bài học ngày xưa trong trường học thời Đệ Nhị Cộng-Hòa về đạo làm con mà tôi còn nhớ đó là “Nhị Thập Tứ Hiếu”, nói về gương hiếu-thảo của hai mươi bốn người con đối với Cha-Mẹ.  Tác-phẩm này được một học-giả sống vào thời nhà Nguyên, tên là Quách-Cư-Nghiệp viết kể lại bằng chữ Hán.  Ở nước ta, một công-thần nhà Nguyễn là ông Lý-Văn-Phức  (trải qua ba triều vua Minh-Mạng, Thiệu-Trị và Tự-Đức) đã diễn ra Quốc-Âm thành một truyện thơ, viết theo thể “song-thất-lục-bát”;  (trình-tự: hai câu bảy chữ, một câu sáu chữ và một câu tám chữ)
Đây là những bài học mà học-trò thời ấy (trong đó có tôi) phải thuộc lòng trong môn “Cổ-Văn”.  Còn “Kim-Văn” là những truyện ngắn viết theo thể văn xuôi.  Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ bài thơ nói về nhân vật “Mẫn-Tử-Khiên”:
Thầy Mẫn-Tử rất đường hiếu-nghĩa.
Xét nhà huyên* quạnh quẽ đã lâu,
Thờ Cha sớm viếng khuya hầu,
Chẳng may gặp phải Mẹ sau nồng nàn,
Trời đương tiết đông hàn lạnh lẽo,
Hai em thời kép áo dầy bông,
Chẳng thương chút phận long-đong,
Hoa lau nỡ để lạnh lùng một thân.
Khi Cha dạo theo chân xe đẩy,
Rét căm căm nên xẩy rời tay,
Cha nhìn ngẫm nghĩ mới hay,
Nghiến răng rắp cắt đứt dây xướng tùy.
Gạt nước mắt chân quỳ miệng gửi:
“Lạy Cha xin xét lại nguồn cơn,
Mẹ còn, chịu một thân đơn,
Mẹ đi, luống để cơ-hàn cả ba”.
Cha trông xuống cũng sa giọt tủi.
Mẹ nghe lời cũng đổi lòng xưa,
Cho hay hiếu-cảm nên từ,
Thắm lâu như đá cũng rừ lọ ai”.
(*Nhà huyên: nghĩa là Mẹ).
Đây là câu chuyện nói về một học trò của Khổng-Tử, tên Mẫn-Tử-Khiên, sinh vào đời Xuân-Thu. Mẹ ông mất sớm, Cha ông lấy vợ kế, sinh được hai người con.  Người dì ghẻ đối với ông vô cùng cay độc, nhưng ông vẫn một lòng hiếu thuận.  Vào mùa đông giá rét, hai con riêng của bà được mặc áo ấm lót bông.  Còn Mẫn-Tử-Khiên thì bà cho mặc áo độn hoa lau bên trong không thể đủ ấm, nhưng ông không hề dám hé môi than-phiền.
Một hôm đẩy xe cho Cha dạo chơi, vì quá rét lạnh nên tay chân Mẫn-Tử-Khiên cóng lại và bị xẩy tay kéo.  Cha ông nhìn lại mới biết ra là người kế mẫu đã ác nghiệt để con riêng mình rét lạnh.  Định đuổi ngay người đàn bà ấy đi.  Nhưng Mẫn-Tử-Khiên đã khóc lóc van xin Cha và giải bày rằng: “khi còn bà kế-mẫu trong nhà, thì chỉ một mình con rét lạnh. Nếu bà bị đuổi đi thì hai người em kia của con sẽ chịu rét và khổ lây thêm”.
Người Cha nghe con nói vô cùng xúc động nên nguôi giận.  Còn người dì ghẻ của ông biết chuyện, hiểu rõ lòng hiếu-thảo và tình-thương-yêu của Mẫn-Tử-Khiên đối với hai em cùng Cha khác Mẹ.  Bà suy nghĩ và tự hổ-thẹn là đã ăn ở không phải lẽ.  Từ đó bà thay đổi cách cư-xử với con chồng.
Qua câu truyện ngắn trên, chúng ta thấy lòng hiếu-thảo và tình-thương có thể thay đổi được hoàn cảnh gia-đình một cách êm đẹp.  Theo tác-giả Nhất-Thanh Vũ-Văn-Khiếu trong cuốn sách “Đất Lề Quê Thói” đã nhận định về đạo-hiếu theo quan-điểm xưa như sau:
“Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết.
Thời suy ra trăm nết đều nên.”
Diễn nghĩa là: xét cho cùng những kẻ bất hiếu, bất trung, không tốt với Cha-Mẹ, chắc hẳn không thể tốt với người khác được.  Hơn nữa, những kẻ này sẽ là tấm gương xấu cho con cái họ đi theo.  Người xưa thường bảo: “Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó”.
“Hiếu thuận hoàn sinh hiếu thuận tử,
Ngỗ nghịch hoàn sinh ngỗ nghịch nhi.
Bất tín đãn khán thiềm đầu thủy,
Điểm điểm trích trích bất sai di”.
Có nghĩa là:
“Nếu mình hiếu với Mẹ-Cha,
Mai sau con hiếu với ta khác gì.
Nếu mình ăn ở vô nghì,
Đừng mong con thảo làm gì uổng công.
Kìa xem giọt nước xuôi dòng,
Giọt sau, giọt trước cũng đồng một nơi.”
Nho học xưa có một quan niệm rất nghiêm khắc về đạo hiếu: lúc nhỏ, lúc lớn, lúc già không một ngày được quyền sao lãng đạo làm con.  Còn nhỏ thì một niềm kính cẩn, vâng lời hầu hạ.  Lúc khôn lớn ra đời làm ăn thì lo phụng dưỡng báo hiếu Mẹ-Cha.
Nền âm nhạc Việt-Nam từ  thập-niên 50 có những bài hát như “Ơn Nghĩa Sinh Thành” của Dương-Thiệu-Tước, được mở đầu bằng câu: “Uống nước nhớ nguồn.  Làm con phải hiếu. Công Cha như núi Thái-Sơn.  Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.  Hoặc bài “Lòng Mẹ” của Y-Vân: “Lòng Mẹ bao la như biển Thái-Bình dạt dào”…  là một sự kiện đáng lưu-ý trong đời sống giáo-dục gia-đình của người Việt-Nam về đạo làm con.
Người theo đạo Thiên-Chúa cũng phải thuộc nằm lòng một trong mười điều răn của Đức Chúa Trời, đó là điều răn thứ bốn: “Thảo-Kính với Cha-Mẹ”.  Trong “Huấn Ca Đạo Hiếu” có phần ghi rằng:
“… Ai thờ Cha thì bù đắp lỗi lầm
Ai kính Mẹ thì tích-trữ kho báu.

Hãy thảo-kính Cha-Mẹ con bằng lời nói việc làm.
Để nhờ các Ngài mà con được chúc phúc.
Vì phúc lành của người Cha
Làm cho cửa nhà con cái bền vững.

Chớ vênh vang khi Cha con phải tủi nhục,
Vì nỗi tủi nhục đó chẳng vinh-dự gì cho con.
Quả thật, người ta chỉ vẻ vang
Lúc Cha mình được tôn kính;
Và con cái phải ô-nhục khi Mẹ mình bị khinh-chê…”
 (Huấn-Ca: chương 3, câu 1 đến câu 16).
Trong kho-tàng Ca-Dao Việt-Nam, có mô tả về sinh-hoạt của dân gian như sau:
“Tháng Giêng là tháng ăn chơi.
Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà…
… Tháng Sáu buôn nhãn bán trâm,
Tháng Bảy, ngày Rằm xá-tội-vong-nhân”.


Rằm tháng Bảy (Âm-Lịch) hằng năm chính là ngày lễ Vu-Lan.  “Xá-tội-vong-nhân” nhằm nhắc đến tấm gương báo hiếu, cứu Mẹ của tôn-giả Mục-Kiền-Liên, sự  tích này xuất phát từ Kinh Vu-Lan-Bồn vào thời Đức Phật còn tại-thế ở Ấn-Độ.  Kinh này nói lên chuyện tôn-giả Mục-Kiền-Liên nhờ vâng lời Phật dậy đã thỉnh-cầu Chư-Tăng mười phương chú-nguyện, cầu siêu, tịnh-độ cho Mẹ mình là bà Thanh-Đề vào dịp Rằm tháng Bảy.  Nhờ vậy mà bà đã thoát khỏi cảnh ngạ-quỷ, khổ-ải trầm-luân.
Người Phật-Tử thường noi gương Mục-Kiền-Liên báo đáp công Cha, nghĩa Mẹ dù đã qua đời hay còn tại thế như ca-dao ngàn xưa truyền dạy rằng:
“ Cha già là Phật-Thích-Ca
Mẹ già như thể Phật-Bà-Quan-Âm
Nhớ ngày xá tội vong nhân
Lên Chùa lạy Phật đền ơn sinh-thành”. 
Những thời-gian về Việt-Nam làm phim tài-liệu hoặc trên bước đường chia xẻ thình-thương đến người già, trẻ em tàn tật, Thương-Phế-Binh Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa… Hạnh-phúc mà tôi tìm lại được là đi đến các cửa tiệm; nơi bán sách cũ.  Kiếm tìm những tác-phẩm văn-học trước 1975 với mọi chủ-đề về nhân-văn, xã-hội, tôn-giáo, công-dân giáo-dục, đạo-lý người xưa v.v… tất cả đã rách bìa, màu giấy ngả vàng mà sao thật quý giá.   Tôi đi tìm những báu vật này như câu chuyện Dương-Phủ đời nhà Minh đi tìm Phật.
Thờì ấy, Dương-Phủ thi đỗ tiến-sĩ, làm tới chức Ngự-Sử, nổi tiếng là vị quan thanh-liêm, chính-trực.  Thuở bé, vì nhà rất nghèo. Ông phải ra sức cầy cấy, chân lấm tay bùn để cung-dưỡng cho song-thân.  Khi lớn lên, vì có lòng mộ đạo.  Ông xin phép Mẹ-Cha tìm đến vùng đất Thục để được học-đạo vì nơi đó có một đạo-sĩ uyên-thâm Phật pháp tên là Võ-Tế.  Đi được nửa đường, Dương-Phủ gặp một vị lão tăng.  Biết ý định của Dương-Phủ là đang đi tìm Võ-Tế để học đạo, lão tăng liền bảo:  “Gặp Võ-Tế sao bằng gặp được Phật!” Dương-Phủ rất mừng, hỏi xem cách nào gặp được Phật thì lão tăng chỉ dẫn là:
“Đừng đi đâu xa cho mất công.  Thí-Chủ cứ quay về nhà, thấy người nào đi dép ngược, quần áo xốc xếch, hình dạng tất-tả thì đó chính là Phật.”
Nghe lời đạo-sĩ quay trở về. Trong khi đi đường ông chú-ý nhưng chẳng thấy người nào đúng như hình-dáng lão-tăng đã tả, dần dần về tới nhà lúc nào không hay.  Lúc đó Trời đã khuya, Dương-Phủ vừa lên tiếng gọi cửa thì Mẹ ông chạy ra.  Vì quá vội mừng con trở về; người Mẹ đi ngược cả dép, quần áo xốc-xếch, cử chỉ tất-tả mừng mừng tủi tủi giống y như lời lão-tăng  đã chỉ dẫn.
Dương-Phủ đứng ngẩn người ra nhìn, hiểu ngay đó chính là Đức Phật từ-bi mà lão-tăng muốn mình thờ-phụng.  Từ đó trở đi ông tu tại-gia thờ kính Mẹ-Cha như là Phật vậy.  Không cần phải lặn lội đường xa hay cầu kỳ học đạo nữa.
Theo Tăng-Tử thì: “Hiếu-Thảo là đức hạnh đứng đầu trăm đức-hạnh.  Lòng hiếu-thảo mà thấu đến Trời thì gió mưa hòa-thuận.  Lòng hiếu thảo mà thấu đến đất thì muôn vật sinh sôi.  Lòng hiếu-thảo thấu đến người thì các điều phước đều tuôn đến”.
Riêng với Mạnh-Tử, Ngài đã phán-quyết rằng: “Theo thế-tục có năm tội bất hiếu là: Tay chân lười biếng, không đoái hoài đến việc nuôi dưỡng Mẹ-Cha; là một tội bất hiếu.  Thích cờ bạc, rượu chè, bỏ bê Cha-Mẹ; là hai tội bất hiếu.  Ham tiền tài của cải vật-chất không ngó ngàng đến Mẹ-Cha là ba tội bất hiếu. Theo đuổi, ham muốn của tai mắt, dục-vọng bản thân; làm cho Cha-Mẹ mang nhục; là bốn tội bất hiếu. Thích hung-hăng tranh hơn thua địa-vị thế-gian làm liên-lụy đến Mẹ-Cha là năm tội bất hiếu”.
Ai trong chúng ta dường như cũng am hiểu chữ “Đạo” không có ý-nghĩa liên quan đến tín-ngưỡng tôn-giáo.  Theo thuần-ý “Đạo” là “Con Đường”.  “Tu” không có nghĩa là phải cạo đầu vào Chùa hay khoác áo Dòng, áo Triều…  Mà “Tu” có nghĩa là “Sửa”. 
Khổng-Tử cũng đã dạy rằng: “Có lỗi mà không sửa, thì đúng là có lỗi vậy!”
Trở lại với chữ “Đạo” và chữ “Tu”.  Ca-dao Việt-Nam từ ngàn xưa vẫn dạy rằng:
“Tu” đâu cho bằng “Tu” nhà.
Thờ Cha kính Mẹ ấy là “Đạo” con.
Thân-Phụ-Mẫu của tôi đã qua đời hơn mười năm qua.  Ngày giỗ hai Vị thường rơi vào mùa lễ Vu-Lan báo hiếu.  Tôi lại nhớ đến lời Đức Phật dậy trong kinh “Đại-Báo-Phụ-Mẫu-Trọng-Ân”, là phải thực-hiện sáu bổn-phận để báo đáp phần nào công-ơn sinh-dưỡng:
1/ Giữ gìn Tam-Quy, Ngũ-Giới.
2/ Thường học-hỏi và tụng đọc các Kinh-Điển.
3/ Siêng năng lễ Phật Sám-Hối.
4/ Chí-thành phụng-sự Tam-Bảo.
5/ Bố-thí, làm phước, hồi-hướng công-đức cho Cha-Mẹ
6/ Cúng-dường thập-phương-tăng trong ngày Vu-Lan Tự-Tứ.
Tôi cũng ao ước rằng “Đạo Làm Con” trong mỗi người chúng-ta gắn liền với cuộc sống hiện thực; cho dẫu đời tạm này có trùng trùng nhiễu-nhương,  trăm công, nghìn chuyện.  Cho dẫu lòng người thay trắng, đổi đen.  Tình nhân-ái có thu ngắn trong một diện-tích giới-hạn nào hoặc sự bao-dung có khan hiếm như lá mùa Thu.  “Chân-Quê” tôi vẫn nguyện noi theo tấm gương hiếu-hạnh như trong câu chuyện “Nam Hải Quan-Âm”:
“Chân như đạo Phật rất màu,
Tâm trung chữ Hiếu, niệm đầu chữ Nhân.
Hiếu là độ được đấng thân,
Nhân là cứu vớt trầm luân mọi loài.
Tinh-thông nghìn mắt, nghìn tay.
Cũng trong một điểm linh đài hóa ra.
Xem trong biển nước Nam ta,
Phổ Môn có Đức Phật-Bà-Quan-Âm.”
Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc.  Viết cho Mùa Vu-Lan năm 2010 (Dương-Lịch) Sẽ được chuyển dịch qua Anh-Ngữ nhằm viết cho những Thế-Hệ Trẻ Việt-Nam nối tiếp).

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.