Hôm nay,  

Viết Lại Lịch Sử

23/03/201000:00:00(Xem: 11138)

Viết Lại Lịch Sử
Vũ Linh

...cuối trào Bush, đã có ba cuộc khủng hoảng lớn: gia cư, ngân hàng và kinh tế...

Cách đây ít tuần, bà phụ tá Valerie Jarrett được tuần báo Newsweek phỏng vấn. Bà Jarrett là một trong “tứ trụ triều đình” (cùng với quân sư David Axelrod, phát ngôn viên Robert Gibbs, và Chánh Văn Phòng Rahm Emanuel), bạn chí thân của TT Obama từ mấy chục năm qua tại đất Chicago khét lẹt. Biết sẽ phải trả lời nhiều câu hỏi về thành quả năm qua của TT Obama nên ngay từ đầu, bà Jarrett đã rào đón “Look, we inherited a mess”, tạm dịch là “Này nhé, chúng tôi đã hưởng một gia tài rối tung”.
Gần đây, cựu quân sư của Bush là Karl Rove xuất bản hồi ký về tám năm cầm quyền của Bush. Ông Paul Begala, cựu phụ tá của TT Clinton, hiện là bình luận gia cho đài truyền hình CNN, viết ngay một bài phân tích và chỉ trích sách của ông Rove chỉ là 500 trang nói láo. Begala đả kích Bush đã vung phí thặng dư ngân sách của Clinton để lại khiến nước Mỹ mang nợ, là thủ phạm trong các khủng hoảng gia cư và ngân hàng, đẩy kinh tế xuống hố, nói láo về vụ Iraq, không để ý đến những cảnh giác về khủng bố khiến xẩy ra vụ 9/11 mà đáng lẽ ra đã có thể tránh được.
Câu nói của bà Jarrett không có gì lạ, và lập luận của ông Begala cũng rập khuôn theo quan điểm cấp tiến, thiên tả. Tất cả chung quy là tại Bush hết. Hơn một năm sau khi nhậm chức, TT Obama và các phụ tá vẫn còn ca bài đổ thừa lên đầu Bush. Vấn đề là đa số dân Mỹ cũng biết Bush để lại một gia tài không mấy tốt đẹp và do đó họ mới bầu Obama lên để dọn dẹp, để “thay đổi”, vì tin ở lời hứa ông sẽ giải quyết mọi chuyện, chứ không phải bầu một người chẳng biết làm gì hơn là ngồi than vãn tháng này qua năm nọ. Nếu Bush không làm những sai lầm to lớn khiến dân Mỹ chán ghét thì làm sao Obama được bầu" Đúng ra, Obama phải cám ơn Bush thay vì chỉ trích Bush. Hay là Obama oán Bush vì đã không hưởng được cảnh ngồi mát ăn bát vàng"
Sự thật nước Mỹ là một nước lớn, với thật nhiều vấn đề rắc rối, hết chuyện này đến chuyện khác, liên miên bất tận, và tất cả các tổng thống từ xưa đến nay, đều hưởng một gia tài đầy chuyện nhức đầu. Từ Lincoln vừa lên đã lãnh ngay cuộc nội chiến, đến Roosevelt nhậm chức trong cuộc khủng hoảng kinh tế vĩ đại. Gần đây hơn, Kennedy thừa hưởng cuộc chiến tranh lạnh và dàn hỏa tiễn nguyên tử tại Cuba cách Miami một trăm dặm. Johnson thừa hưởng chiến tranh và khủng hoảng chính trị ở Việt Nam và cuộc tranh đấu dành dân quyền của dân da đen. Nixon lãnh cuộc chiến Việt Nam và một nước Mỹ phân hóa cùng cực. Carter lãnh gia tài Watergate khiến dân Mỹ mất hết tin tưởng vào chính quyền. Reagan nhận được một nước Mỹ sa sút trên mọi lãnh vực, từ kinh tế đến ngoại giao. Ngay cả TT Bush 43 cũng thừa hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế sau khi thị trường chứng khoán rớt gần 60% năm 2000 vào cuối trào Clinton....
Dĩ nhiên là dân Mỹ đã nghe đủ kiểu tố giác các vị tổng thống tiền nhiệm trong mùa tranh cử. Nhưng sau khi tổng thống mới nhậm chức thì những chuyện xỉa tay đổ thừa hầu như chấm dứt. Các tân tổng thống bắt tay vào việc, giải quyết các chuyện rắc rối. Duy chỉ có TT Obama thì hơn một năm sau, vẫn ngồi than vãn và đổ thừa.
Và điều đáng nói hơn nữa là những lời cáo buộc về Bush phần lớn không có căn bản nghiêm chỉnh. Ông Begala tố TT Bush đã không ngăn ngừa được cuộc tấn công 9/11, đã nói láo để có lý do đánh Iraq, làm tan nát kinh tế Mỹ qua các khủng hoảng gia cư, ngân hàng, và để lại một hố thâm thủng ngân sách vĩ đại. Ta hãy thử khách quan nhìn lại mấy vấn đề này.
VỤ TẤN CÔNG 9/11
Ông Begala khẳng định nếu Bush chú tâm hơn thì đã có thể ngăn ngừa được cuộc tấn công 9/11. Trong tất cả các lời chỉ trích Bush, đây là lời chỉ trích thiếu lương thiện nhất. Không ai biết trước được cuộc tấn công đó, hay ngăn ngừa được nó.
Hệ thống an ninh tình báo mà TT Bush thừa hưởng là một cơ chế bết bát cùng cực, vô tổ chức, với ít nhất là hai tá cơ quan cùng chung trách nhiệm mà chỉ lo tranh công móc giò nhau chứ không có hợp tác, chia sẻ tin tức với nhau. Đây thật ra là gia tài của cả mấy đời tổng thống để lại.
Nếu thật sự phải nói đến vấn đề trách nhiệm thì những người có trách nhiệm lớn nhất làm tê liệt các cơ quan an ninh tình báo là các thượng nghị sĩ Dân Chủ, đứng đầu là Frank Church, từ dưới thời Nixon đã truy tố các hoạt động của CIA và giới hạn tối đa các hoạt động này. Rồi đến các TT Carter và Clinton khi họ cắt giảm ngân sách và cấm không cho CIA và FBI dùng những thành phần “bất hảo” làm nguồn tin hay gián điệp, cắt đứt phần lớn nguồn cung cấp tin từ nhân sự, mà chỉ có thể trông cậy vào các nguồn kỹ thuật qua máy móc như computer, internet, điện thoại, phi cơ thám thính.... Những phương tiện này có thể hữu hiệu ở Mỹ, nhưng khi Osama Bin Laden chui vào hang núi, không sử dụng điện thoại hay email, thì Mỹ đành bó tay, tám năm truy lùng cũng không tìm được dấu vết.
Dựa trên lập luận của ông Begala, thì ta có thể đặt câu hỏi nếu vụ 9/11 xẩy ra là do Bush bất tài bất cẩn, thì vụ đánh bom hai cao ốc World Trade Center ở Nữu Ước năm 1993 dưới thời Clinton thì có phải là do Clinton -và ông phụ tá Begala- bất tài và bất cẩn không" Và hầu hết các đặc công cảm tử Hồi giáo trong vụ 9/11 đều đã sống ở Mỹ, học lái máy bay từ thời TT Clinton, sao họ không bị khám phá và bắt ngay từ lúc đó" TT Clinton -và Begala- có tám năm để ngăn chận khủng bố trong khi TT Bush có tám tháng để ngăn ngừa vụ 9/11.
Cái công lớn của Bush là cải tổ toàn diện tổ chức an ninh và bảo đảm nước Mỹ được an toàn cho đến ngày nay. TT Obama cần ghi nhận công lao của Bush đã để lại cho ông một hệ thống an ninh hoàn hảo hơn. Nhưng đòi hỏi sự công nhận như vậy là quá đáng!
CUỘC CHIẾN IRAQ
Sau vụ tấn công 9/11, cả nước Mỹ, từ dân chúng đến cấp lãnh đạo hai đảng và cả truyền thông, hầu như mất tỉnh táo, hoảng sợ trước sự bất lực của tổ chức an ninh Mỹ (không có khả năng ngăn cản được quân khủng bố). Al Qaeda là một đe dọa, nhưng Saddam Hussein cũng nguy hiểm không kém. Lãnh tụ Iraq không bỏ lỡ dịp nào để hăm dọa đánh Mỹ. Mà ông này lại dường như có vũ khí giết người tập thể cực kỳ nguy hiểm. Chỉ cần một trái bom “bẩn”, tức là bom nguyên tử bỏ túi hay một trái bom vi khuẩn gì đó, thả ngay trung tâm Nữu Ước là có thể giết được hàng trăm ngàn người. Trong khi đó, tất cả tin tức tình báo Mỹ, Do Thái, Anh, Pháp, Đức, Nga, Ả Rập đều chắc nịch là Saddam có những vũ khí đó và sẵn sàng sử dụng.


Cựu TT Clinton tuyên bố năm 1998: “Cộng đồng thế giới có thể sẽ thấy càng ngày càng nhiều những đe dọa kiểu Iraq ngày nay: một nước ngông cuồng với vũ khí giết người tập thể, sẵn sàng sử dụng hay cung cấp cho các tổ chức khủng bố những vũ khí đó. Nếu chúng ta không có biện pháp đáp ứng bây giờ, Saddam và tất cả những tên muốn theo bước chân của ông ta sẽ cảm thấy mạnh dạn hơn trong tương lai.” Nói thì oai, nhưng TT Clinton chẳng dám làm gì, dù đã được thỉnh nguyện thư của rất nhiều nhân vật của cả hai đảng, kể cả những nhân vậy sau này chửi ông Bush là nói láo!
Không một tổng thống hay chính khách Mỹ nào trong thời điểm đó có thể khoanh tay ngồi chờ Saddam thả bom “bẩn” rồi mới hành động. Ta thử tưởng tượng mà chuyện đó xẩy ra thì Bush sẽ có tội cỡ nào và sẽ bị đã kích tới đâu" Khi TT Bush - sau khi cảnh cáo Saddam cả chục lần, và sau khi Saddam phớt lờ cả chục quyết nghị của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc - quyết định đánh Saddam để loại trừ mối đe dọa lớn này, thì cả Thượng viện lẫn Hạ viện đều ủng hộ quyết định của ông, kể cả các thượng nghị sĩ Dân Chủ Hillary Clinton, John Kerry, và Joe Biden. Quyết định đó cũng được cựu TT Clinton hoan nghênh.
Ta cũng cần biết là cả TT Bush lẫn các lãnh tụ lưỡng đảng tại Thượng và Hạ viện đều nhận được cùng một báo cáo về tình hình an ninh. Các báo cáo định kỳ này do Giám Đốc CIA George Tenet soạn thảo, và ông Tenet là người được TT Clinton bổ nhiệm chứ không phải là “đàn em” của Bush, thông đồng với Bush đánh lừa Quốc hội. Muốn biết thêm quan điểm của các lãnh tụ Dân Chủ về vấn đề Iraq dưới thời TT Clinton, tức là trước khi Bush có dịp “nói láo”, xin xem:
http://www.rightwingnews.com/quotes/demsonwmds.php
Đánh Iraq là một quyết định sai lầm vì dựa trên tin tức sai lầm của tình báo, không phải vì TT Bush cố tình “nói láo”.
KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
Phải nói ngay là cuối trào Bush, đã có ba cuộc khủng hoảng lớn: gia cư, ngân hàng và kinh tế. Nhưng tựu chung, cả ba cuộc khủng hoảng thực sự chỉ là một: khủng hoảng gia cư đưa đến khó khăn cho ngân hàng với hàng ngàn nợ mua nhà không thanh toán, tạo ra tình trạng xiết nợ dẫn đến suy trầm kinh tế. Đầu giây mối nhợ vẫn là khủng hoảng gia cư, đánh dấu bởi tình trạng thiên hạ mua nhà bừa bãi, không trả nợ được, phải bán nhà, tồn kho nhà tăng mạnh, và giá nhà suy xụp.
Cuộc khủng hoảng gia cư không phải nẩy sinh ra trong mấy năm ông Bush làm tổng thống, mà là kết quả của một tiến trình hơn ba mươi năm, kể từ thời TT Carter.
Vào năm 1977, TT Carter nhận thấy các ngân hàng không chịu tài trợ nợ mua nhà rẻ tiền trong các trung tâm (downtown) thành phố lớn, nơi tập trung số đông đảo dân nghèo, phần lớn là dân da màu. Ông ra luật Community Reinvestment Act chẳng những cấm kỳ thị (redlining) những khu này, mà còn bắt buộc các ngân hàng dễ dãi tối đa việc cấp nợ mua nhà cho những khu này. Đưa đến một sự bộc phát nợ mua nhà trong giới trung lưu và nghèo.
Trước áp lực của mức cầu, cộng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ dưới thời TT Reagan, các ngân hàng bị đặt vào tình trạng phải phát triển mạnh để có đủ tiền cho vay. Qua thời TT Clinton, năm 1999 ông Clinton đáp ứng nhu cầu của ngân hàng bằng cách giải tỏa luật lệ kiểm soát ngân hàng, cho phép các ngân hàng thương mại sát nhập vào các ngân hàng đầu tư, công ty tài chánh, và hãng bảo hiểm, đưa đến sự ra đời của những tổ hợp tài chánh khổng lồ như CitiGroup, Bank of America, Lehman Brothers,… Đưa đến tình trạng cạnh tranh sống chết giữa mấy con khủng long này.
Các đại gia này thi đua tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu cho vay mua nhà, chế biến ra những công cụ tài chánh phức tạp như các gói nợ (debt bundles), các nghiệp vụ đầu tư phái sinh (derivatives) và đối xung (hedging) dưới thời TT Clinton.
TT Clinton cũng bành trướng mạnh vai trò của hai cơ quan tín dụng bán công Fannie Mae và Freddie Mac, mua lại hàng trăm tỷ nợ nhà của các ngân hàng để các ngân hàng có tiền cho vay tiếp tục. TT Bush đã nhiều lần đòi gia tăng sự kiểm soát hai định chế này, nhưng đây là hai con gà đẻ trứng vàng giúp hàng triệu gia đình trung lưu và nghèo sở hữu nhà, do đó Bush cũng không có được hậu thuẫn trong quốc hội để có thể làm được gì. Chưa kể là hai cơ sở bán công ấy cũng chi tiền vận động rất mạnh cho phe Dân chủ trong Quốc hội. Chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện là Nghị sĩ Chris Dodd bị điều tra chính là vì chuyện này với Fannie Mae và Freddie Mac (chưa kể tiền bạc của hai công ty Countrywide và AIG) mà nay quyết định sẽ không ra tái tranh cử nữa.
Việc dễ dãi hóa nợ mua nhà đưa đến kết quả thực tiễn là 1) sự thịnh hành của nợ thứ cấp (sub-prime) cho những người chưa đủ điều kiện vay mượn bình thường, và 2) giá nhà gia tăng một cách vô lối, đặc biệt là trên các thị trường nóng bỏng như Florida, California, và Nevada. Thiên hạ mau mắn chửi các ngân hàng tham lam không đáy, cũng như chỉ trích Bush đã không làm gì để ngăn chận khủng hoảng, nhưng quên rằng chính mình cũng có trách nhiệm lớn khi vung tay quá trán, mua nhà bừa bãi quá khả năng của mình. Trước khi quy trách nhiệm lên người khác, ta cũng nên nghĩ lại trách nhiệm của chính mình.
Đến một lúc nào đó thì bong bóng gia cư sẽ phải nổ tung, cũng như bong bóng điện toán dot.com đã nổ năm 2000 cuối thời Clinton. Cái không may cho TT Bush, mà cũng cho ứng viên Cộng Hòa McCain, là bong bóng đó nổ lúc cuối trào Bush, đúng một tháng trước cuộc bầu cử tháng 11 năm 2008. Cả Bush lẫn McCain đã phải trả giá thật đắt cho các chính sách mỵ dân của Carter và Clinton.
Ông Begala chỉ trích Bush đã để lại một cái hố thâm thủng ngân sách khổng lồ. Nhưng ông quên nhắc lại cái hố thâm thủng của Bush là chuyện bắt buộc phần lớn vì cuộc chiến chống khủng bố trong nước cũng như ngoài nước, mà vẫn chưa bằng một phần mười cái hố Obama sẽ để lại trong những năm tới vì chính sách tái phân phối lợi tức của ông. Điều đáng nói là Begala lớn tiếng chỉ trích cái hố thâm thủng chưa tới một ngàn tỷ của Bush, nhưng lại hai tay hoan nghênh cái hố thâm thủng mười hai ngàn tỷ của Obama.
***
Lịch sử sẽ ghi nhận TT Bush đã làm nhiều sai lầm cực kỳ nghiêm trọng, chẳng hạn như không tích cực hơn khi thấy bong bóng gia cư càng ngày càng căng, đã cắt giảm thuế quá nhiều trong lúc nước Mỹ phải gánh hai cuộc chiến khiến ngân sách rơi vào thâm thủng, hay đã không có kế hoạch chu đáo hơn để ổn định Iraq sau khi đã loại bỏ được Saddam. Nhưng tố cáo Bush đã nói láo về vụ Iraq hay đã là thủ phạm tạo ra khủng hoảng gia cư, ngân hàng phá tan nước Mỹ chỉ là viết lại lịch sử. (21-3-10)
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi Thứ Ba.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.