Hôm nay,  

Cây Nêu

12/02/201300:00:00(Xem: 12930)

VATV tổng hợp
Ở Việt Nam, tại vùng thôn quê, có tập tục dựng cây nêu vào chiều 30 Tết và hạ nêu chiều mùng 7 Tết để mừng Tết Nguyên Đán. Cây nêu là một cây tre cao, dài nguyên vẹn chỉ tỉa lá. Trên ngọn nêu có cột một lá bùa và một túi tre nhỏ chứa trầu cau, muối và gạo.
Do đâu người Việt Nam có tập quán dựng cây nêu nhân dịp Tết? Cây nêu hàm ngụ bao nhiêu ý nghĩa Triết học, nhất là Triết học kinh tế?
Muốn giải đáp những thắc mắc trên chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu sự tích cây nêu.
Tục truyền rằng vào thời dân Việt vừa biết kết hợp thành làng xóm, giang sơn Việt Nam bị loài quỷ dữ thống trị. Dân chúng khốn khổ, lầm than. Bao nhiêu tài nguyên và nhân lực đều bị quỷ cưỡng đoạt.
Lời than oán của dân Việt thấu tận trời xanh. Ngọc Hoàng bèn cử một vị thần tên là Thần Làng xuống giúp. Thần Làng gọi dân Việt lại mà bảo: “Nay ta giúp ý để các con thoát khổ. Các con hãy bảo với quỷ vương rằng loài thực vật gồm có rễ, thân và ngọn. Quỷ vương hãy cho biết mùa màng năm nay quỷ vương lấy phần ngọn hay phần rễ?”
Sau câu hỏi của dân Việt, Chúa quỷ hội ý với lâu la. Biết rằng dân Việt chuyên trồng lúa nên quyết định phán quỷ sẽ lấy phần ngọn, còn phần rễ dành cho dân Việt, vì hạt lúa nằm ở ngọn cây. Nhằm đương đầu với quyết định này của quỷ vương,Thần Làng khuyên toàn dân năm ấy trồng khoai vì củ khoai nằm ở rễ.
Vụ mùa năm ấy quỷ vương thua mưu dân Việt nên rất tức giận gọi đại diện dân Việt đến Vương Cung và phán: “Mùa gặt sang năm, quỷ vương sẽ lấy phần rễ, còn phần ngọn dành cho dân Việt.”
Mùa màng năm sau, theo lời dặn của Thần Làng, dân Việt trồng lúa và được hưởng phần ngọn, tức là lúa. Thế là, quỷ vương thua mưu dân Việt lần thứ hai.
Mặc dù đã thua trí hai lần, quỷ vương vẫn không từ bỏ tâm địa tham ác lại ra lệnh cho dân Việt: “Mùa màng năm tới quỷ vương sẽ thu cả phần ngọn lẫn phần rễ, chỉ để thân cây lại cho dân Việt.” Do đó, Thần Làng bảo dân Việt trồng bắp vì quả bắp nằm ở thân cây. Một lần nữa, Thần làng đã giúp dân Việt thắng trí quỷ vương.
Sau ba lần thua cuộc, Quỷ vương ra lệnh cho tập đoàn quỷ tấn công bừa bãi vào dân Việt cướp lúa, ngô, khoai. Mặt khác, quỷ vương đã biết dân Việt được Thần Làng hỗ trợ nên ra lệnh cho một số quỷ con đội lốt người, trà trộn với dân Việt để tìm yếu điểm của Thần Làng. Thần Làng cho dân Việt phao tin: Thần làng sợ xôi, sợ chuối. Ngược lại, Thần làng cũng biết quỷ sợ huyết chó, huyết dê. Thế là quỷ vương chuẩn bị xôi chuối để tấn công trong khi dân Việt sẵn sàng phản công bằng huyết chó, huyết dê. Cả hai bên hồi hộp chờ đợi một cuộc chiến mất còn.

Thế rồi, trận chiến xảy ra. Quỷ tấn công người bằng xôi, bằng chuối; người tấn công quỷ bằng huyết dê, huyết chó. Nhờ xôi chuối, dân Việt sung sướng no bụng, trong khi loài quỷ chạy dài vì bị huyết chó, huyết dê ám.
Sau thảm bại này, quỷ vương tìm tới Thần Thành Hoàng Bản Xã để thương thuyết. Quỷ vương đề nghị trả lại đất cho dân Việt, chỉ xin giữ lại một mảnh đất nhỏ để sinh nhai. Thần Làng đã biết lũ quỷ này đang tính kế ngụy hòa, chờ khôi phục lực lượng để tấn công dân Việt. Vì vậy, Thần Làng đáp lễ và giao kết dân Việt chỉ giữ một mảnh đất bằng tấm áo của Thần, chỗ còn lại sẽ nhường hết cho quỷ. Như thế, giao ước giữa quỷ và dân Việt đã thành hình.
Thần làng cởi tấm áo đang mặc và dùng để xác định lãnh thổ của dân Việt. Thần tung áo lên trời, áo càng lên cao càng lớn. Bóng chiếc áo lan đến đâu thì lũ quỷ lùi dần đến đó, ra tận biển Đông. Từ đó dân Việt sống an lạc. Quỷ ở biển Đông thiếu ăn thiếu mặc, rét mướt quanh năm. Vì vậy, quỷ xin với Thần, hàng năm vào dịp Tết, cho phép quỷ được vào đất liền để thăm mồ mả và kiếm lương thực. Vì lòng nhân ái, Thần chấp thuận.
Từ đó, mỗi độ Xuân về, Dân Việt nhớ lời Thần, mở cửa cho quỷ về thăm đất liền, nhưng không quên cột lá bùa tượng trưng cho áo Thần trên cành tre cao để nhắc nhở lũ quỷ rằng tuy người dân Việt cho phép quỷ về thăm đất liền, nhưng quỷ chớ xảo trá, lật lọng, vì tấm áo của Thần còn đó, sẵn sàng trừng phạt chúng. Mặt khác, người dân Việt hiền hòa, từ bi treo trên cây nêu, dưới bùa áo Thần, một giỏ tre chứa gạo, muối và trầu cau hàm ý bố thí cho quỷ bữa ăn đầu Xuân.
Qua chuyện sự tích Cây nêu, người ta đặc biệt chú ý tới: Quỷ vương, Dân Việt và Chiếc Áo Thần.
Quỷ vương tiêu biểu cho mọi thói hư tật xấu của loài người. Thói hư tật xấu lớn nhất, độc ác nhất của loài người là lòng tham muốn độc quyền kinh tế. Do lòng tham vô đáy đó, CSVN tập trung quyền lợi kinh tế trong tay và đẻ ra cái gọi là chế độ Tư Bản Nhà Nước, hay còn gọi là chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa tức Cộng sản.
Gần đây, CSVN hiện nguyên hình Tư Bản Đỏ. Quyền lợi trong nước tập trung vào tay thiểu số 2 triệu tư nhân giàu có núp dưới lá bài vô sản. Tư Bản Đỏ Chuyên Chính thì lại nguy hiểm hơn vì họ không chỉ nắm tiền tài mà nắm luôn quyền sinh sát người dân vô tội.
Song, ma quỷ thường sợ thánh thần, nên hiện nay trong nước, nhiều quỷ vương cấp trung ương đã cả quyết rằng: "Hiện tượng chiếc áo thần và cây nêu rất có thể là diễn biến Hoà Bình!" Thật vậy, chiếc Áo Thần Tự Do Mậu Dịch Thế Giới, chiếc Áo Thần Tự Do Tín Ngưỡng và chiếc Áo Thần Quyền Làm Người đang được từ từ trải rộng hơn. Giờ đã đến lúc người dân VN mừng Xuân và dựng lại ngọn nêu để tiêu trừ loài quỷ đỏ.
Tài liệu của Đỗ Thái Nhiên
Lê Thùy Lan và Võ Thành Nhân thu ngắn cho VATV

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.