Hôm nay,  

Quà Quê Nhà

23/06/201500:00:00(Xem: 17659)

Thỉnh thoảng ra phi trường đưa đón người thân quen, tôi thấy những chuyến bay về các nước châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Philippines có nhiều khách đi mang theo hành lý là những kiện hàng vuông vuông vừa đúng kích thước của luật hàng không.

So với những chuyến bay đi châu Âu, hành khách ít khi mang theo thùng hàng mà chỉ những chiếc vali to.

Quan sát và trò chuyện với một số người Việt về quê, tôi biết trong những thùng hàng đó có phôma, có thịt bò bí-tết, có những trái mận đỏ (cherry) là những sản phẩm Mỹ được người Việt trong nước ưa thích. Đem những thứ đó về làm quà cho gia đình, cho bạn bè thân thương là điều quí nhất sau một chuyến du hành Mỹ.

Nếu không là thực phẩm, có người lại đóng vào thùng, giữa đống quần áo và bọc ni-lông có hơi là vài chai rượu ngon như Johnnie Walker Blue Label, hay những chai rượu vang đắt tiền, đặc sản từ thung lũng Napa.

blank
Bánh đậu xanh đặc sản Hải Dương và cà-vạt lụa (ảnh Bùi Văn Phú).

Ba mươi năm trước, những thùng quà gửi về Việt Nam là những thước vải, bánh xà-phòng, hộp kem đánh răng, lọ nước hoa, chai dầu xanh, hộp mỹ phẩm, kẹo bánh.

Ngày nay Việt Nam không thiếu các mặt hàng đó loại thượng hạng, được bày bán trong các siêu thị sang trọng không thua gì như ở các nước tân tiến. Nhưng hàng đem về từ Mỹ hay từ châu Âu bảo đảm được chất lượng và không sợ mua nhầm đồ dổm.

Dầu gió xanh nay cũng vẫn thường là sản phẩm được đem về làm quà. Có người còn đem cả xì-dầu Maggi sản xuất ở châu Âu, mua từ các siêu thị ở Mỹ, đem về làm quà hay cho người thân dùng.

Tâm lí không tin hàng sản xuất trong nước, hay hàng được nhập vào thị trường Việt Nam là kém chất lượng hơn hàng Mỹ thường có trong giới tiêu dùng. Cũng có thể vì tâm lí sính hàng ngoại nên hàng từ Mỹ về là thơm, là tốt, là quí hơn.

Giống như người Việt, người Philippines và người Trung Quốc khi về thăm quê hương cũng thường mang theo nhiều thùng quà, như tôi đã có nhiều dịp quan sát tại quầy gửi hành lý của Philippines Airlines và Air China tại phi cảng San Francisco.

blank
Chè xanh và cốm vòng (ảnh Bùi Văn Phú).

Trong dịp đi Cuba cũng thấy người Cuba từ Mỹ về thăm quê nhà mang theo những thùng hàng. Hành lý về Saigon, Manila hay Bắc Kinh gói trong kiện dán băng dính là đủ. Còn về Cuba, những kiện hành lý đã gói, nịt và còn được cuốn thêm nhiều lớp ni-lông vì sợ bị rạch, bị moi đồ trước khi đến nơi.

Ngày xưa các hãng máy bay cho hành khách gửi theo mỗi người hai kiện hàng, mỗi kiện 70 cân Anh, nay giảm xuống chỉ còn mỗi kiện 50 cân, nên số lượng quà mang về quê cũng giảm đi.

Gia đình chúng tôi có liên hệ với xứ Quảng. Một lần đi xe qua cánh đồng lúa thấy một bác nông dân mặc áo com-plê đang cày dưới ruộng. Hỏi ra mới hiểu được vì nghèo quá, trời mùa lạnh nên có gì mặc đó để ra đồng làm việc. Những quần áo là hàng cũ người nước ngoài gửi về, dân ở quê xin được ai cái gì mặc cái nấy.

Vì thế khi có thân nhân về thăm quê nhà, gia đình chúng tôi không quản ngại đem theo những thùng quần áo cũ để cho người nghèo khó ở quê, dù có tốn thêm một vài trăm đô gửi thêm hành lý.

Quà tặng thì có quà nhận. Bạn bè biết tôi thích sách và các sản phẩm văn nghệ nên thường tặng sách, đĩa nhạc. Sách về văn chương, lịch sử, mỹ thuật. Các chương trình ca nhạc của Diva Việt Nam, Mỹ Linh, Thanh Lam, Hồng Nhung, Đức Tuấn, Quang Dũng hát nhạc Phạm Duy, Trịnh Công Sơn.

Chè, cà-phê, bánh đậu xanh, mè xửng, kẹo mạch nha cũng là quà đặc biệt từ quê nhà. Có những loại chè từ miền thượng du Bắc Việt, uống thơm, nhưng tôi không quen nên nhiều đêm thức đến sáng. Cà-phê Trung Nguyên 3in1 khá phổ thông và có hương vị đậm đà. Pha uống liền hay muốn nhìn ngắm từng giọt chầm chậm từ phin nhỏ xuống ly sữa thì tùy lúc, tùy nơi.

Rượu bổ có rắn, tắc kè ngâm với các thứ sâm nhung. Uống vào dễ thấy lung linh đất trời.

blank
Quà quê nhà là những tác phẩm văn chương (ảnh Bùi Văn Phú).

Có bạn từ bờ Đông nước Mỹ đi công tác ở Việt Nam về và có mua cốm xanh làm quà cho gia đình tôi. Không biết nửa ký cốm tốn bao nhiêu nhưng gửi Express qua California, cước bưu điện hơn 30 đô-la vì bạn biết để lâu cốm sẽ không còn tươi, thơm ngon. Thật đáng trân qúi.

Một thứ quà Hà Nội mà tôi thích là mứt mơ cam thảo. Sau cơm chiều, uống trà thưởng thức loại mứt này thật là tuyệt vời.

Những năm gần đây, quà quê nhà còn là nhiều thức ăn đặc sản. Ốc hút sào dừa, cá thác lác xay, cá lóc nướng là những sản phẩm không bị luật Mỹ cấm mang vào. Hôm trước được người nhà chuẩn bị nấu nướng ở Saigon, rồi đóng gói đưa lên máy bay là hôm sau thức ăn đến Mỹ cho bà con thưởng thức. Thỉnh thoảng gia đình tôi đã có những bữa ăn nhậu với ốc, chả cá chiên và cá cuốn bánh tráng.

Nhiều món ăn khác từ quê nhà tôi đã có dịp thử và thấy ngon. Tôm rim, cá cơm chiên giòn, chỉ hâm nóng lại, ăn với rau luộc chấm nước mắm là một bữa ăn đậm đà hương vị quê nhà.

Một thứ đặc sản của nhiều người Việt là mắm. Tuy trong các siêu thị Á đông ở Mỹ không thiếu loại mắm nào, nhưng có người bạn, theo tôi biết mỗi chuyến đi Việt Nam mang theo thịt cùng bơ sữa, khi về lại Hoa Kỳ là cả thùng mắm các loại, cá kèo, cá sặc đủ cả.

Không biết đã có bao giờ xảy ra sự cố những lọ mắm vỡ đổ trên đường bay giữa Saigon và San Francisco chưa.

Nhà văn Linh Bảo có truyện ngắn “Hũ mắm nêm đi Hương Cảng” viết năm 1958 kể chuyện một hũ mắm được trân trọng đưa ra nước ngoài, nhưng đến nhiều nơi lại bị chê cười, hất hủi không dám gần. Nhưng chính nó lại là biểu hiệu của quê hương trong những ngày bà sống bôn ba nơi xứ người.

Ngày nay, trên những chuyến bay từ quê nhà về lại Mỹ, nếu để ý bạn sẽ thấy từ Saigon hay Hà Nội sang Taipei, Seoul trong khoang máy bay thoang thoảng có mùi nước mắm, mùi dầu xanh là hương vị quê nhà mà nhiều du khách nước ngoài nay đã nhận ra.

© 2015 Buivanphu.wordpress.com

Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.