Hôm nay,  

Cầu cá

10/10/201700:00:00(Xem: 15144)
Cầu cá
TT Thành
 

Đa số vùng quê ở miền tây Nam phần thường có ao nuôi cá tra (có nơi gọi là “cá vồ”) và cầu cá sau nhà.  Cầu cá giải quyết nhiều vấn đề  cho người dân quê nhưng đối với tôi sống ở thành thị từ nhỏ nên thấy không thấy thích kiểu cầu tiêu này vậy mà tôi bị đi cầu cá hơn một năm khi bị bắt ở trại tù vượt biển Bà Bèo.  

Ao nuôi cá phải dài hơn hai mươi lăm mét, rộng phải hơn mười mét do tù đào khi lập trại.  Một dãy cầu hơn mười ngăn làm bằng cây tràm và vách ngăn che bằng lá dừa nước.  Đưòng đi vào cầu cũng kết bằng cây tràm cong queo, hai bên có gác cây tràm để người đi vịn tay bước vào cầu cho khỏi té xuống ao.  Cá tra đưọc thả dưới hồ ăn phân của tù.  Mỗi sáu tháng được vớt lên để tính vào phần ăn của tù!

Mỗi ngày tù nữ được đi vệ sinh trước.  Tù phải sắp hàng có đội trưởng dẩn đầu.  Khi ra cổng có lính gác để tới nhà cầu, tù phải đếm số,  khi trở vào cũng phải đếm.  Mỗi lần như vậy là cả chục người phải chờ đợi ra công rồi lại phải chờ tới phiên khi ra tới cầu.  Khốn khổ cho ai bị chột bụng thì đây qủa thật là một cực hình.

Sau khi ra khỏi cổng, đi bộ quanh co một hồi rối mới ra tới ao cá.  Người nào mới bị đi cầu này lần đầu sẽ ớn sợ khi phải đi qua caí cầu khỉ bằng cây tràm cong queo, cắp vá để tới nhà cầu.  Mỗi khi trời mưa trơn trợt, đi qua cây cầu này không khác gì đi trên dây trong gánh xiệc.  Đã có người tù nữ bị trợt té xuống ao cá này.  Mỗi lần có người đi, đám cá tra tranh ăn quẩy nước bắn lên người ngồi.


Chưa hết.  Khoảng gần sáu tháng thì cá được vớt lên để phát và cưỡng bức bán cho người tù!  Tù nữ và tù có thăm nuôi đời nào họ chịu ăn cái loại cá nuôi bằng kit đó.  Chỉ có tù hình sự và tù mồ côi thăm nuôi phải rán ăn.  Ngày đó cả trại bay mùi thối nồng nặc khi cá được đem ra bờ kinh làm sạch ruột.

Tôi không biết những trại tù vượt biển khác tàn ác đền mức nào nhưng đối với tôi thì trại Bà Bèo này là vô nhân nhứt đối với tù nam lẫn tù nữ.  Chẳng những người tù bị nhốt đúng hạn hay hơn mà còn phải làm nô lệ lao động để đem lại tiền thu nhập cho bọn coi trại.  Sự thù hằn ngươì vượt biển thấy rõ qua thái độ của bọn cán bộ trại.  Chúng sẵn sàng hành hạ thẳng tay để trả thù [!?] những người không muốn sống với bọn chúng.  Bọn chúng nghĩ rằng bị hành hạ tàn ác như vậy không ai còn dám đi vượt biển nữa, Chúng đã lầm to!  Có những người bị bắt khi thả ra lại đi nữa như “bắt cóc bỏ vào dĩa”.  Không thiếu gì những người vượt biển năm lần bảy lượt cho đến khi nào thoát khỏi địa ngục của bọn chúng mới thôi.

Riêng tôi cũng thấy “ớn” khi bị hành hạ khi còn trong trại nhưng sau khi được thả ra một thời gian lại túi bị lên đường để xuống ghe tiếp.
 
TT Thành, WA

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.