Hôm nay,  

Tìm Mẹ

13/08/200300:00:00(Xem: 11990)
Thân tặng Giám Mục Mai Thanh Lương, Người vừa nhận sứ mạng mới ở Orange County.

Bản quán của tôi là làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nhưng tôi ra đời là Cố Đô Huế. Hồi còn bé, mẹ tôi gởi tôi về ở với Cậu, đi học Tiểu Học trường làng Thâm Triều, quận Hải Lăng. Đã lỡ uống nước vùng đồi núi Nam Giao rồi thì giọng Huế rặt ròi không mất khiến cho những người quen tôi cứ ngỡ rằng tôi đích thị là người Huế chánh tông.

Những năm mới ngoài hai mươi, tôi phải buộc lòng xa Huế. Càng đi xa Huế, lòng thương lòng nhớ Huế càng nặng. Huế của tôi trong đó có bóng người cha những năm ngắn ngủi với đời mà tình sâu với con bền vững như đỉnh núi Ngự Bình, có dáng người mẹ hiền một đời tần tảo khổ nhọc muôn bề mà trái tim thương lo cho con mênh mông vời vợi như dòng sông Hương. Huế là tình sâu nghĩa nặng như thế, cho nên một ngày nọ, khi Bác Sĩ Tôn Thất Niệm mời tôi tham gia vào việc thành lập Hội Bảo Tồn Cố Đô Huế, tôi đã nhận lời không một chút ngần ngại, bởi vì đây là dịp cho nguồn yêu thương Huế trong tôi lớn dậy, cho nỗi nhớ về nơi chôn giau cắt rốn từ xa xưa tràn ngập trong lòng. Làm cái gì cho Huế cũng là một cách lên đường đi tìm lại những nỗi niềm thân thiết đã thất lạc từ lâu rồi.

Góp mặt với Hội Bảo Tồn Cố Đô Huế, đa số là người Huế, những người Huế xa Huế đã lâu và sự nghiệp một đời đã lẫy lừng ở những nơi ngoài Huế. Bác Sĩ Tôn Thất Niệm, ông Bùi Hữu Lân... và đặc biệt là Linh Mục Bửu Dưỡng, là những người năng nổ nhất. Câu chuyện nào giữa chúng tôi với nhau cũng rất thân thiết, rất tình cảm, nhẹ nhàng như những lời tâm sự. Linh Mục Bửu Dưỡng rất muốn tôi đứng ra làm Hội Trưởng nhưng tôi lại theo chủ trương "kính lão đắc trường thọ" nên thôi thúc Ngài lãnh trách nhiệm Hội Trưởng đầu tiên. Điều này còn thêm một ý nghĩa khác vì Ngài là người Hoàng Tộc lại đang là Giáo Sư của Đại Học Văn Khoa. Tuy chỉ làm việc chung với nhau trong một thời gian gần 10 năm, gặp nhau hài hòa giữa những buổi họp, nhưng giao tình giữa chúng tôi và tình đồng hương cũng đủ tin cậy để làm chỗ dựa cho những chuyện riêng tư.

Một lần, Linh Mục kể cho tôi nghe chuyện gia đình của Ngài. Ngài là con út của một bà mẹ cả, trong một gia đình quý tộc quy ngưỡng đạo Phật. Rủi ro mẹ mất sớm. Có một người anh đầu. Tuổi bé thơ mà mất mẹ, nên mỗi lần nhớ tới mẹ, nhớ tới thân phận mồ côi của mình thì buồn xa xót. Ngài hay tìm tới ngôi chùa ngày trước thường được mẹ dẫn đi, lang thang thơ thẩn một mình trong vườn chùa, đi mãi đi hoài như cố kiếm tìm một cái gì thiết tha đã mất. Có bữa Thầy Trú Trì bắt gặp, hỏi thăm chú tìm chi ngoài vườn vậy " Trong trái tim bé thơ với vết thưong mất mát nặng trĩu, chú hồn nhiên trả lời: "Thưa Thầy con đi tìm mẹ" ! Thầy bảo: "Chú có điên không" Mẹ chú chết rồI còn đâu nữa mà đi tìm". Chú không tin người lớn. Chú không tin sự mất mát kia là có thật.

Thuở thiếu niên, Linh Mục Bửu Dưỡng học trường Providence ở Huế. Giờ ra chơi, giờ nghỉ học, chú không chịu về nhà, cứ quanh quẩn nơi vườn hoa trước nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, thơ thẩn trông tìm. Có một Linh Mục tình cờ bắt gặp hỏi: "Con đi tìm gì thế "" Chú trả lờI: "Con đi tìm mẹ con". Cha dẫn chú vào nhà thờ, chỉ vào tượng Đức Mẹ Maria, bảo chú: "Mẹ của con đó". Chú im lặng, không nói năng chi. Người mẹ mà chú đi tìm vẫn biệt tăm mất tích. Nhưng từ đó, cùng với ngày tháng nặng nề vô cảm trôi qua, giờ khắc rảnh rỗi nào chú cũng tìm vào nhà thờ quỳ trước linh tượng Đức Mẹ dịu dàng để tìm sự an ủi.

Như đi giữa sương lâu dầm ướt áo, chú bé bước vào đường tu, làm Linh Mục nhiều năm, nổi tiếng uyên bác và làm Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Sàigòn. Có lần, ngồi bên Linh Mục, tôi đùa: "Nếu trở lại vài chục năm trước, gặp Ngài đi ngoài vườn chùa, tôi sẽ hỏi: "Chú đi tìm gì vậy "" Ngài, cũng với câu trả lời quen thuộc: "Con đi tìm mẹ". Tôi sẽ dẫn chú vào Chùa, chỉ vào ngôi tượng Phật Bà Quan Âm dịu hiền thanh thoát. Lúc ấy chắc là Ngài đã tìm được mẹ rồi. Và bây giờ ngồi bên cạnh tôi đây là hình ảnh trở thành của chú bé ngày xưa, một Hòa Thượng hiền lành. Ngài cũng như tôi, đã nuôi lòng đi tìm người mẹ ruột thịt của mình qua hình ảnh Mẹ bất tuyệt của tín ngưỡng và trần gian.

Trẻ con nào mà không gần mẹ, không cần mẹ, không quay quắt đi tìm Mẹ lúc xa vắng" Mẹ là cái gì thân thiết, gần gủi làm ấm áp mặn mà đời con như hương của loài hoa. Thiếu mẹ, mất mẹ là một nỗi buồn lớn, một thứ bất hạnh rủi ro nhất cho đời người. Trong đạo Phật, mùa Lễ Vu Lan là mùa mẹ cha, mùa của tri ân hiếu dưỡng, mùa cho con nghĩ về mẹ. Nếu mẹ còn sống, cầu cho mẹ mạnh khỏe an vui, hái đóa hồng tươi từ trái tim nhiệt nồng yêu thương dâng mẹ. Nếu mẹ đã qua đời, cúng dường Trai Tăng hồi hướng công đức cho mẹ được an nhiên siêu thoát nơi miền Cực Lạc, có những thân tái sanh tốt đẹp. Thương mẹ, lúc nào con cũng nuôi lòng đi tìm cho gặp mẹ, mẹ còn sống, mẹ qua đời, mẹ vô tình đã thất lạc con (con thất lạc mẹ) trong nỗi đời phiền lụy. Đi tìm và gặp mẹ, có mẹ rồi đời con sẽ hết bơ vơ.

Ngày mẹ tôi lìa đời, tôi buồn lắm. Trong niềm bơ vơ vì mất mẹ, những câu thơ của ai đó cũng làm cho tôi thêm tủi thân:

Thấm thoát bao ngày tiếng dế vang
Bao ngày mẹ vắng giữa trần gian

Hay:

Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời !

Trốn vào những tình thơ tan nát đó, hồn càng thêm thương tích. Và cuối cùng, tôi nhận ra một sự thật: trong cuộc đời, không có gì buồn hơn là mất mẹ; không có gì vui sướng hơn là còn mẹ, và ấm áp thay những trái tim lúc nào cũng nhiệt nồng quay về mẹ, đi tìm mẹ một đời.

Los Angeles,
Mùa Vu Lan 2547 - 2003
HUYỀN KHÔNG

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ở phương diện đạo đức và văn hóa, Philip Taubman và William Taubman đã phân tích những mâu thuẫn nội tâm của McNamara: tiếng nói của lương tâm và quyền lợi quốc gia. Theo họ, trong thâm tâm, ông từng nhận định rằng Hoa Kỳ đã phạm sai lầm nghiêm trọng và không thể giành chiến thắng trong cuộc chiến. Tuy nhiên, trước công chúng và trong các tuyên bố chính thức, ông vẫn duy trì lập trường cứng rắn, tiếp tục biện minh cho chính sách leo thang quân sự. Sự đối lập giữa nhận thức riêng tư và lập trường công khai ấy tạo nên một nghịch lý phản ánh bi kịch cá nhân của McNamara, đồng thời cũng là bi kịch của cả một thời kỳ lịch sử...
Hiệp định Mekong năm 1995 là nền tảng của sự hợp tác cho Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam – qua đó các quốc gia thành viên long trọng hứa hẹn sẽ tôn trọng công bằng, không gây tổn hại cho nhau và cùng chung quản lý sông Mekong. Ủy hội sông Mekong, MRC là cơ quan được lập ra với nhiệm vụ quản lý, quan trắc kiểm soát dòng nước, chia sẻ dữ liệu, điều hợp tham vấn các dự án trên sông và bảo vệ sự lành mạnh cho lưu vực. Nhân dịp Lễ Kỷ Niệm 30 Năm ngày thành lập, tháng 11 năm 2025, MRC mô tả cho lưu vực một thành tích vẻ vang là đạt được: "Thịnh vượng chung“. Các quan chức MRC nhấn mạnh khả năng cảnh báo lũ lụt, nghiên cứu môi trường, lập quy hoạch phát triển, và cả những nhượng bộ (bất đắc dĩ) của Đối Tác Trung Quốc về việc chia sẻ dữ liệu dòng chảy của Lạn Thương giang, thượng nguồn sông Mekong trên Vân Nam.
Năm Bính Ngọ 2026 – năm Con Ngựa Lửa – đang phi nước đại tới với bao hứa hẹn đổi thay, may mắn và khám phá mới quanh một loài vật từng cùng nhân loại viết lại bản đồ thế giới. Các nhà cổ sinh học cho biết tổ tiên xa xưa của ngựa là một sinh vật cỡ… con cáo, sống trên đất Bắc Mỹ khoảng 55 triệu năm trước; nhiều triệu năm sau, dòng họ ấy mới tiến hóa thành giống Equus – họ hàng trực tiếp của những chú ngựa ngày nay. Đàn Equus lần theo dải đất Bering băng qua sang Á, Âu, Phi, để rồi gặp tổ tiên chúng ta – lúc ấy vẫn xem ngựa là mồi săn, để lại xương và dấu mũi giáo trong những dấu tích khảo cổ có niên đại hàng trăm ngàn năm.
Theo cuộc thăm dò mới của NBC News Decision Desk Poll do SurveyMonkey thực hiện, sự ủng hộ dành cho chương trình nhập cư của Tổng thống Donald Trump đang giảm mạnh vào đầu năm 2026 sau khi các nhân viên nhập cư liên bang bắn chết hai người Mỹ vào tháng trước. Cuộc thăm dò cho thấy rằng các chiến thuật hung hăng và chỉ tiêu trục xuất của chính quyền đã thay đổi quan điểm của người Mỹ về Trump đối với chính những vấn đề đã giúp ông đắc cử. Vấn đề nhập cư và an ninh biên giới từ lâu đã nổi bật như một điểm mạnh của Trump trong các cuộc thăm dò, cả khi ông tranh cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2024 và trong năm đầu tiên của chính quyền mới. Giờ đây, tỷ lệ ủng hộ Trump về vấn đề này đã giảm xuống ngang bằng với tỷ lệ ủng hộ công việc tổng thể của ông.
Trong các cuộc xuống đường phản đối biện pháp siết chặt di trú và tăng ngân sách cho cơ quan ICE trên khắp nước Mỹ những tuần qua, hình ảnh dễ thấy là hàng hàng giáo sĩ đeo cổ áo thánh, giơ bảng, đứng giữa hàng rào cảnh sát và đoàn người di dân. Một trong những tiếng nói gây tranh luận mạnh là Giám mục Rob Hirschfeld, Giáo phận Episcopal New Hampshire. Ngày 18.1.2026, ông kêu gọi các giáo sĩ trong giáo phận “chuẩn bị cho một kỷ nguyên tử đạo mới”, thậm chí lo sẵn di chúc và giấy tờ hậu sự. Theo ông, đây không còn là thời của những tuyên bố trên giấy, mà là lúc “dùng chính thân thể mình để đứng giữa các thế lực của thế gian và những người dễ bị tổn thương nhất”.
Câu chuyện Samuel Green nhắc lại một bài học cũ mà vẫn mới - pháp luật có thể sai, nhưng dư luận đạo đức của xã hội – lương tri chung của nhà giáo, nhà báo, trí thức, giáo dân, độc giả – nếu đủ bền, vẫn có thể bẻ cong những bản án bất công. Khi một mục sư da đen bị tống ngục chỉ vì giữ Uncle Tom’s Cabin, chính các tiếng nói ấy, chứ không phải thiện chí của giới cầm quyền, đã dần mở cửa nhà tù cho ông. Giữa thời nay, khi ngôn ngữ và ý kiến dễ bị dán nhãn, bị siết trong tên gọi “chống woke” hay “đúng đắn chính trị”, bài học đó rất đáng nhớ: nếu xã hội không giữ cho mình một dư luận đạo đức độc lập – bảo vệ quyền đọc, quyền nói, quyền bất đồng – thì khoảng cách từ “quản lý ngôn luận” đến “vào tù vì một cuốn sách” không bao giờ xa như ta tưởng.
Belzoni, một thị trấn chừng hai ngàn dân ở Mississippi, lâu nay được quảng cáo là “Kinh đô Catfish của thế giới”. Nhưng với người da đen, cái tên ấy còn gợi lại một chuyện khác: một trong những vụ treo cổ thời dân quyền đầu tiên trên đất Mỹ ở thế kỷ này. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, hai người thuộc tổ chức White Citizens’ Council ở địa phương nhắm thẳng vào ca-bin xe của Mục sư George Lee mà bắn; mấy viên đạn xé nát nửa phần dưới gương mặt ông. Lee là một trong những người đồng lập hội NAACP tại Belzoni, là người da đen đầu tiên ghi tên đi bầu được ở hạt Humphreys kể từ thời Tái thiết. Không những thế, ông còn vận động cho hơn trăm người da đen cùng thị trấn ghi tên vào danh sách cử tri, một con số đáng kể nếu nhớ tới kích thước nhỏ bé của Belzoni và bầu không khí bạo lực luôn treo lơ lửng trên đầu người da đen dám dùng lá phiếu của mình giữa thời Jim Crow
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.