Hôm nay,  

Cha Lấy Chồng Con

16/01/201200:00:00(Xem: 18404)
Cha Lấy Chồng Con

pho_te_nguyen_manh_san-large-contentPhó Tế Nguyễn Mạnh San

Trên thế giới ngày nay, người ta nhận thấy quốc gia nào càng văn minh bao nhiêu thì càng có nhiều sự việc quái đản xẩy ra trong xã hội bấy nhiêu, nhất lại xẩy ra trong một quốc gia tạp chủng Hoa Kỳ, mà quyền tự do, dân chủ và tôn giáo của mỗi một con người đang sinh sống trong quốc gia này, luôn luôn được chính quyền coi trọng là quyền lực Tối Thượng, trên hết mọi quyền lực khác và chính phủ Hoa Kỳ cũng như người dân đang sinh sống trong quốc gia này đều phải tôn trọng và bảo vệ Quyền Tối Thượng này một cách tuyệt đối nghiêm chỉnh, ấy thế mà cũng không làm sao tránh khỏi được những hành động Mạ lị Phỉ Báng nhau bằng lời nói hay bằng văn thư in trong sách báo hoặc viết trên website để phổ biến rộng rãi đến quần chúng đọc. Lẽ dĩ nhiên những hành động này xẩy ra đều được pháp luật Hoa Kỳ xét xử một cách công minh chính đáng.
Trước khi chúng tôi xin trình bầy cùng đọc giả về tội phạm Mạ Lị Phỉ Báng bằng lời nói (Slander) hoặc bằng bài viết (Libel), chúng ta cần lưu ý đến một vấn đề pháp lý thực dụng có liên quan trực tiếp đến loại tội phạm này đã, đang và có thể sẽ còn tiếp diễn xẩy ra trong Cộng Đồng Người Việt của chúng ta nói riêng, nếu chúng ta vô tình hay cố ý, không thèm tìm hiểu về phương diện pháp lý, đối với hành động chuyển tiếp một bài viết mang nội dung sai sự thực, đầy ác ý xuyên tạc, nhằm mục đích phỉ báng mạ lị một cá nhân hay một đoàn thể nào, cho dù chúng ta không phải là tác giả của các bài viết mạ li phỉ báng đó, mà chúng ta chỉ là những người nhận được loại điện thư này (Email), đọc xong, rồi lại chuyển tiếp bài viết này đến bạn bè của chúng ta cùng đọc trên website và nếu nhân vật bị mạ lị phỉ báng đó bị nêu tên rõ ràng trong bài viết, trong khi họ không cần phải biết rõ ai là tác giả của bài viết này, nhưng họ vẫn có quyền truy tố chúng ta là những người trực tiếp chuyển tiếp bài viết này ra trước Tòa Án nếu họ muốn, thì Tòa Án có thể sẽ xét xử chúng ta như là những kẻ âm mưu tòng phạm tội mạ lị phỉ báng (Conspiracy for Libel or Slander ), với chứng cớ hiển nhiên (Email Evidence) là chúng ta đã chuyển tiếp lá thư phỉ báng này đến bạn bè cùng đọc trên website. Đây là một điều mà chúng ta cần luôn luôn phải tự cảnh giác là ĐỪNG BAO GIỜ CHUYỂN TIẾP (Never forward) bất cứ bài viết nào, có nội dung với những lời lẽ mạ lị phỉ báng, đến bạn bè cùng đọc trên website. Vì nếu không, vô tình hay hữu ý, chúng ta có thể sẽ trở thành những bị cáo trước Tòa Án như vừa mới được trình bầy ở trên đây.
Tiếp theo đây là 2 trường hợp mang tính chất mạ lị phỉ báng xẩy ra ở trong 2 giáo xứ tại Hoa Kỳ như sau:
Trường hợp thứ nhất : Ông chồng đi làm việc 6 ngày một tuần, từ ngày Thứ Hai cho đến Thứ Bẩy tại một hãng xưởng, từ 6 giờ sáng cho đến 4 giờ 30 chiều mới về tới nhà, còn bà vợ đi làm 5 ngày một tuần, từ Thứ Hai cho đến Thứ Sáu, từ 3 giờ chiều đến 11 giờ 30 khuya mới về tới nhà, nên hai vợ chồng ít khi nào có thì giờ gặp mặt nhau và chỉ còn có ngày Chủ Nhật mới có thể có nhiều thì giờ gặp được mặt nhau, nhưng khổ một nỗi, mỗi sáng Chủ Nhật, sau khi hai vợ chồng cùng đi dự Thánh Lễ 8 giờ sáng tan ra, ông lại ở lại Nhà Thờ, tình nguyện dạy lớp giáo lý tân tòng, dạy lớp tiếng Việt, thu dọn sạch sẽ trong Nhà Thờ cho đến 6 giờ chiều mới về tới nhà. Rồi một thời gian sau, bà vợ cảm thấy cô đơn, có chồng cũng giống như không có chồng, nên bà yêu cầu ông chỉ được tình nguyện dạy một lớp tân tòng ngay sau khi Lễ xong, là phải về nhà với gia đình, nhưng ông không chịu nghe bà, nên bà phải vào trình sự việc này với Cha Chánh Xứ, yêu cầu Cha Chánh xứ chỉ cho phép chồng bà dạy một lớp tân tòng mà thôi và xin Cha ra lệnh cho chồng bà sau khi dạy học xong, ông phải quay trở về nhà với gia đình vợ con, không được ở lại giáo xứ để làm thêm những công việc khác như hiện nay ông đang làm. Sau khi Cha Chánh Xứ đã nói chuyện với chồng bà theo lời bà yêu cầu Ngài, Cha Chánh Xứ cho bà biết là Ngài đã khuyên bảo chồng bà nên làm theo lời bà, nhưng chồng bà cũng vẫn không chịu chấp nhận lời đề nghị này và Ngài cũng giải thích cho bà hiểu rõ thêm rằng: Ngài không có quyền hành bắt buộc chồng bà phải về nhà sau khi dạy học lớp tân tòng xong và Ngài cũng không có quyền ngăn cấm ông không được phép dạy học lớp tiếng Việt như lời bà yêu cầu Ngài, cũng như Ngài không thể ngăn cấm ông tình nguyện làm những công việc khác cho giáo xứ, trong khi ông không hề lỗi phạm điều gì sai quấy đối với giáo xứ, hơn nữa vấn đề này là hoàn toàn chuyện riêng tư nội bộ trong gia đình của bà, Ngài chỉ có thể khuyên bảo ông như Ngài đã làm trong quyền hạn của Ngài. Thế là bà trở nên nghi ngờ chồng mình và Cha Chánh Xứ có tình ý riêng với nhau, nên Ngài có thái độ và lời nói bênh vực chồng bà, giận cá chém thớt, không làm gì được với chồng mình, quay ra ghen tức với Cha Chánh Xứ, cho rằng vì Cha mà chồng mình như muốn bỏ rơi bà, không còn thiết tha với bà như trước nữa, tối ngày ở Nhà Thờ lấy lý do phục vụ Chúa và bà bắt gặp nhiều lần, nhìn thấy cảnh tượng chồng bà đang vui vẻ, sát cánh đi bên Cha đến nhà hàng ăn cơm chung với nhau, càng nghĩ về chồng mình bao nhiêu lại càng ghen tức Cha Chánh Xứ bấy nhiêu, tới lúc này trí óc bà không còn đủ sáng suốt để nhận thức ra những điều mình nghĩ đó có đúng hay sai, thế là ít lâu sau, bà quyết tâm đi phao tin đồn nhảm với nhiều giáo dân trong cũng như ngoài giáo xứ, là Cha Chánh Xứ và chồng bà đồng tính luyến ái với nhau trong mấy năm qua và vì Cha mà bà đã mất chồng. Ấy thế mà cũng có một số giáo dân tin là thật và một số khác bán tin bán nghi.

Trường hợp thứ hai: Cũng trong một giáo xứ có Cha Chánh Xứ mới về thay Cha Chánh xứ cũ và Cha Chánh xứ mới thay đổi lề lối làm việc khác hẳn với Cha Chánh Xứ cũ, nên có một nhóm người phục vụ Nhà Thờ, được nhiều ưu đãi trước kia với Cha Chánh xứ cũ qua nhiều năm liên tục, trở thành một nhóm người bất mãn với Cha Chánh Xứ mới. Những người này đồng lòng viết đơn thỉnh nguyện thư và cùng ký tên gửi lên Đức Tổng Giám Mục, để vu cáo cho Cha Chánh Xứ mới là đồng tính luyến ái với một ông phụ trách quét dọn sạch sẽ trong Nhà Thờ và trong văn phòng nhà xứ, đồng thời những người trong nhóm này, cũng đi phao tin bịa đặt này cho nhiều giáo dân trong giáo xứ biết. Để giải quyết thỉnh nguyện thư này một cách công minh, bằng cách đến tận nơi để điều tra tìm hiểu sự thật nội vụ, nên thân chinh Đức Tổng Giám Mục trong địa phận đã phải đến tận giáo xứ, yêu cầu Cha Chánh Xứ mới hãy đi nghỉ phép thường niên 2 tuần lễ và trao chìa khóa nhà xứ lại cho Ngài, Ngài sẽ thay mặt Cha Chánh xứ cư ngụ ngay tại nhà xứ, để cử hành tất cả các phép bí tích cho giáo xứ, trong suốt thời gian Cha Chánh Xứ đi nghỉ phép, nhờ đó Ngài có nhiều dịp tiếp xúc trực tiếp, nói chuyện với từng cá nhân có uy tín trong giáo xứ, cũng như tiếp xúc riêng với những vị Hội Trưởng các đoàn thể tôn giáo tiến hành trong giáo xứ, để biết rõ đâu là sư thật đối với những điều trong đơn tố cáo này.
Trong suốt 2 tuần lễ liên tục do chính Đức Tổng Giám Mục điều tra tại chỗ, qua những cuộc tiếp xúc riêng tư hàng ngày với cá nhân cũng như với những vị đại diện của các Hội Đoàn trong giáo xứ, tất cả mọi người được hỏi ý kiến về đơn tố cáo này, đều xác nhận với Ngài điều tố cáo đó là hoàn toàn bịa đặt, theo họ nghĩ vì Cha Chánh Xứ mới cải tổ lề lối làm việc mới cho hữu hiệu hơn, nên nhóm người người này bị mất đi nhiều quyền lợi, mà trước kia họ đã được thụ hưởng nhiều ưu đãi của Cha Chánh Xứ cũ ban cho họ bấy lâu nay.
Theo Bộ Luật Dân Sự mang số 12 của tiểu bang Oklahoma, điều 1441 (Libel) và điều 1442 (Slander) về hành động Phỉ Báng và Mạ Lị qua lời nói, qua bài viết hay qua những ấn phẩm, có nội dung ám chỉ hay công khai nói ra những điều làm hại danh dự, vật chất và tinh thần một người khác hay một đoàn thể, nếu bị thưa kiện ra Tòa, sẽ bị xét xử phải bồi thường thiệt hại nặng hay nhẹ cho những nạn nhân bị mạ lị, là còn tùy thuộc vào mức độ danh tánh từng khuôn mặt cá nhân nổi tiếng và uy tín trong cộng đồng (Public figure). Vậy căn cứ vào 2 điều luật này để đem áp dụng vào 2 trường hợp kể trên, giả dụ nếu 2 trường hợp này xẩy ra tại tiểu bang Oklahoma, nếu thật sự có tội, thì Toà có thể xét xử như sau:
Trường hợp thứ nhất: Người vợ không thuyết phục được chồng mình ở nhà với bà, quay ra bực tức, ghen tức với Cha Chánh Xứ một cách vô cớ, để rồi vu oan giáng họa cho Cha là người đồng tính luyến ái với chồng mình, bằng cách tung tin đồn nhảm này cho nhiều giáo dân trong giáo xứ biết, để làm hạ uy tín và thể diện của một vị Linh Mục đang là chủ chăn trong một xứ đạo có đông con chiên. Nếu bà bị thưa kiện ra Tòa về tội phỉ báng bằng lời nói (Slander), chắc chắn bà sẽ bị lãnh bản án trừng phạt bồi thường danh dự về tinh thần lẫn vật chất khá nặng cho Cha Chánh Xứ, vì nạn nhân ở đây là một vị lãnh đạo tinh thần, rất uy tín trong giáo xứ qua nhiều năm liên tục là Cha Chánh Xứ (Pastor). Nhưng cũng chính vì trong cương vị này và để thể hiện lòng bác ái vị tha của một Linh Mục đối với con chiên trong xứ đạo, nên Cha Chánh Xứ đã sẵn lòng tha thứ cho hành vi bất xứng của bà, để bà tự mình ăn năn tội cách riêng với Chúa hoặc đến tòa hòa giải với bất cứ vị Linh Mục nào hay đến tòa hòa giải với chính Linh Mục Chánh Xứ là nạn nhân của bà nếu bà muốn.
Trường hợp thứ hai: Nếu sự việc này bị đưa ra Tòa xét xử về tội phỉ báng mạ lị, thì những người trong nhóm vu cáo gian cho Cha Chánh Xứ mới, cũng sẽ phải lãnh hình phạt bồi thường thiệt hại khá nặng, giống như trường hợp thứ nhất mà thôi. Vì hành động mạ lị bằng bút tích viết trên giấy tờ (Libel) chỉ là đơn tố cáo mang tính cách riêng tư, kín đáo đến hàng giáo phẩm cấp trên, chỉ trong phạm vi tôn giáo, chứ không có tính cách phổ biến rộng rãi bằng văn thư ra ngoài quần chúng đọc, nên Tòa có thể miễn tố xét xử tội mạ lị bằng văn thư tố cáo có giới hạn trong nội bộ tôn giáo. Cũng tương tự như trường hợp thứ nhất, vì nạn nhân quan trọng đầu tiên cũng là một Linh Mục, nên không có vấn đề truy tố nội vụ này ra Tòa xét xử, nhưng để đề phòng, tránh cho những sự việc tương tự như thế này, có thể tái diễn trong tương lai trong giáo xứ, nên Đức Tổng Giám Mục yêu cầu những người trong nhóm tố cáo này, nên tự mình tình nguyện thuyên chuyển, xin gia nhập hội viên (Membership) với một xứ họ đạo khác; còn nạn nhân thứ nhì trong vụ này chỉ là một giáo dân thường (lay person), phụ trách quét dọn sạch sẽ trong Nhà Thờ, không có tiếng tăm gì trong giáo xứ, nên vấn đề thiệt hại uy tín và danh dự cá nhân của ông không đáng kể, nếu ông này có thưa kiện họ ra Tòa xét xử, dù cho có thắng kiện đi chăng nữa, thì người ta tiên đoán ông này cũng chỉ được bồi thường tối đa một đồng bạc danh dự mà thôi.
Trước khi kết thúc đề tài này, chúng ta cần nên nhớ rằng, mặc dầu chúng ta đang được hưởng sự tự do ngôn luận thật sự tại đây, có nghĩa là chúng ta có quyền phát biểu những điều ước muốn trung thực trong lòng của chúng ta hay những đòi hỏi phải được đối xử công bằng chính đáng của chúng ta trước chính quyền hay trước công luận, nhưng không có nghĩa là chúng ta muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói, muốn phỉ báng mạ lị ai hay vu cáo gian cho ai cũng được đâu, bởi vì nếu bất cứ ai lạm dụng sự tự do ngôn luận ở xứ này một cách bất chính, không sớm thì muộn, sẽ có ngày bị pháp luật trừng trị thẳng tay và còn một điều chót nữa là chúng ta đừng bao giờ chuyển tiếp những điện thư nào (emails) có nội dung phỉ báng người này người khác đến cho bạn bè cùng đọc, nếu không, cho dù hành động chuyển tiếp email này của chúng ta có vô tình hay cố ý, chúng ta cũng sẽ bị xét xử như là những tội nhân trước Tòa Án nếu bị truy tố, như đã được trình bầy ở phần đầu của đề tài này.
Phó Tế Nguyễn Mạnh San

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.