Hôm nay,  

Sự Lựa Chọn Chính Thể

20/09/201400:00:00(Xem: 4472)
Đối với một quốc gia mà nói, việc lựa chọn chính thể cũng giống như tìm cho mình một con đường đi vậy. Con đường đó đúng hay sai, bằng phẳng hay gập ghềnh, hạnh phúc hay khổ đau, đều tùy thuộc vào quyết định tối quan trọng này. Chính vì như vậy, cho nên cần có sự tham gia ý kiến và quyết định của toàn dân. Trọng trách đó phải được người dân ủy nhiệm thông qua những cơ quan có đủ năng lực. Phải được cân nhắc và lựa chọn bởi một chính phủ đa thành phần, gồm có sự tham gia rộng rãi của tất cả các đảng phái, tổ chức và cá nhân. Vì rằng, nếu quyết định này rơi vào tay một cá nhân độc đoán hay đảng phái duy nhất thì sẽ dẫn đến sự thiên vị. Theo đó mà lợi ích tối cao của nhân dân cũng ngang nhiên bị tước đoạt.

Sức mạnh của một đất nước tùy thuộc vào phương pháp và cách thức mà người ta tổ chức quyền lực nhà nước. Cho nên cần phải có một hình thức chính thể đúng đắn, một cấu trúc nhà nước hợp lý, và chế độ chính trị tốt đẹp. Nếu 3 yếu tố này kết hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn, thì tiềm lực và sức mạnh của dân tộc sẽ được phát huy hiệu quả nhất, nhằm xây dựng một đất nước hạnh phúc và phồn vinh.

Bây giờ là thời đại của tự do dân chủ, khái niệm “Dân chủ” trở thành cơ sở lý luận, là mục tiêu của mọi nỗ lực chính phủ. Người dân có quyền lựa chọn bộ máy nhà nước, giám sát tính đúng đắn và hiệu quả của nó. Các cơ quan quyền lực này không có nhiệm vụ nào khác ngoài trách nhiệm phục vụ tổ quốc và nhân dân. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều theo chính thể cộng hòa dân chủ (là hình thức mà trong đó, quyền bầu cử và giám sát bộ máy nhà nước thuộc về toàn thể nhân dân). Các quốc gia này được gọi là dân chủ. Mặc dù vậy, trên thực tế vẫn có những quốc gia tự nhận mình là “cộng hòa dân chủ” nhưng lại là một chế độ độc tài trá hình: Nói là dân chủ,nhưng chỉ có một đảng duy nhất được phép cầm quyền. Thực chất đó là những chế độ dân chủ giả hiệu, kẻ cai trị tự đặt ra những quy định nhằm hạn chế hoặc vô hiệu hóa quyền làm chủ của nhân dân. Trong số này, các nước Cộng Sản là những ví dụ điển hình nhất.

Điều cốt yếu trong quản lý nhà nước, là người dân có thể tham gia rộng rãi vào việc thành lập các cơ quan đại diện từ trung ương đến địa phương. Người dân thực sự được trao quyền làm chủ, chứ không phải một cơ quan hay đảng phái nào làm thay điều đó. Các quyền này phải được quy định cụ thể trong một bản hiến pháp dân chủ (đa đảng) thì mới có tính khả thi. Trong các chế độ độc đảng thì khái niệm “dân chủ” chỉ mang tính hình thức mị dân, quyền lực nhà nước thực chất nằm trong tay đảng độc tài.

Đối với chế độ chính trị, thì đó là những phương pháp mà bộ máy nhà nước sử dụng để thực thi quyền lực và quản lý đất nước. Cho nên, trong chế độ dân chủ thì quyền lực nhân dân được thực thi, đất nước phát triển dựa trên ý nguyện của người dân. Các quyền tự do dân chủ được phát triển rộng rãi mà không hề bị hạn chế. Ngược lại, trong thể chế độc tài phản dân chủ, ý chí của đảng cầm quyền được thực thi, trong khi quyền lực nhân dân lại bị tước bỏ. Để mị dân, chế độ độc tài ban phát một số quyền tự do, dân chủ hạn chế. Nhưng một khi người dân đòi hỏi các quyền đó ở mức cao hơn, ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà nước thì lập tức họ sẽ bị đàn áp.


Lịch sử văn minh nhân loại, đất nước nào cũng cố gắng lựa chọn cho dân tộc mình một chế độ chính trị thích hợp và tiến bộ nhất. Mục tiêu là để phát triển đất nước, nhân dân hạnh phúc, và dân tộc phồn vinh. Ở các quốc gia dân chủ hiện nay, chủ yếu tồn tại hai hình thức chính thể: Quân chủ lập hiến và Cộng Hòa.

Các nước có chính thể “Quân chủ lập hiến” đều có nguyên nhân lịch sử và chính trị riêng. Tuy nhiên vai trò của hoàng gia cũng chỉ mang tính biểu tượng, mà không ảnh hưởng đến quyền lực của nhân dân. Một số quốc gia quân chủ lập hiến tiêu biểu như: Anh, Nhật Bản, Hà Lan, Thái Lan…; đối với chính thể “Cộng hòa”, thì đây là hình thức tổ chức chính quyền phổ biến nhất ở các quốc gia dân chủ. Điểm tiến bộ nhất của nó là nhân dân được trao quyền lực một cách vô hạn định. Chính thể cộng hòa được phân chia thành hai hình thức: Tổng thống chế và Đại nghị chế. Trong đó thì Cộng hòa tổng thống là hình thức dân chủ trực tiếp, với vai trò to lớn của nguyên thủ quốc gia (tổng thống). Người dân trực tiếp bầu ra tổng thống chứ không phải là nghị viện (quốc hội).

Trong một thể chế dân chủ, người ta có thể lựa chọn đồng minh mà vẫn không bị phụ thuộc, không mất đi độc lập và chủ quyền. Vì các quốc gia dân chủ xử sự trên tinh thần bình đẳng và tôn trọng luật pháp quốc tế. Trong thể chế độc tài thì lại khác, việc lựa chọn đồng minh hay quan hệ hợp tác là xuất phát từ lợi ích của đảng cầm quyền. Ví như quan hệ Việt Nam – Trung Quốc chẳng hạn. Mặc dù họ tuyên bố là quan hệ “đồng chí anh em”, nhưng thực chất là Việt Nam bị Trung Quốc lấn lướt trong mọi tình huống. Dẫn đến việc Trung Quốc ngang nhiên xâm chiến biển đảo của Việt Nam. Trong khi đó nhân dân Việt Nam phản đối thì lại bị chính phủ đàn áp.

Việc lựa chọn chính thể có vai trò rất quan trọng đối với một quốc gia, nó quyết định đường lối đối nội lẫn đối ngoại. Từ đó mà xác định hướng đi và phát triển của đất nước. Trên cơ sở đó, người ta có thể lựa chọn sự liên minh với các khối, hay đồng minh chiến lược. Cũng có thể đất nước đó lựa chọn trung lập (không tham gia bất cứ liên minh chính trị, quân sự nào), hoặc là trung lập tạm thời hoặc trung lập vĩnh viễn (Thụy Sĩ chẳng hạn). Tùy vào hoàn cảnh và nhu cầu, mà chính phủ sẽ lựa chọn cho quốc gia mình một vị thế thích hợp.

Tóm lại, muốn có một chính thể tốt nhất chúng ta phải đấu tranh quyết liệt để chấm dứt tình trạng độc tài toàn trị hầu có thể xây dựng một chính thể cộng hòa thực sự dân chủ qua con đường Tổng Tuyển Cử Tự Do.

Viết từ Việt Nam ngày 16/09/2014

Minh Văn (ĐVDVN) -- Nguồn: www.dangvidan.net

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.