Hôm nay,  

Giải Phóng Lúa Gạo

06/12/200600:00:00(Xem: 12169)

Giải Phóng Lúa Gạo

...mình trả đũa bằng biện pháp bảo vệ thì chả khác chi là tự phá hoại cầu đường của mình để trả thù....

Gạo là lương thực chính yếu cho phân nửa nhân loại, nhưng các nước sản xuất được bao nhiêu thì tiêu thụ gần hết tại chỗ nên chỉ còn một tỷ lệ nhỏ được buôn bán ra thị trường quốc tế. Trên thị trường này, 75% số gạo xuất khẩu nằm trong tay vỏn vẹn có bốn nước là Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ và Hoa Kỳ. Trong khi ấy, gạo cũng là nông sản được bảo vệ mạnh nhất và trợ cấp nhiều nhất trên thị trường quốc tế nên gây thiệt hại lớn cho các nước nghèo. Tiếp tục kỳ trước, Diễn đàn Kinh tế Đài RFA sẽ tìm hiểu về việc giải trừ nghịch lý này trong cuộc trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa hầu quý thính giả.

Hỏi: Tại phiên họp vừa qua của Quốc hội Việt Nam, một vị đại biểu đã đề nghị đồng loạt nâng mức trợ cấp nông nghiệp từ 10 đến 15% nhưng lập tức một vị đại biểu khác lại phát biểu ý kiến trái ngược, rằng không nên tiếp tục duy trì chế độ bao cấp như vậy vì không có lợi.

Thưa ông, đang theo dõi tình hình lúa gạo và hậu quả tai hại do chế độ trợ giá lúa gạo của các nước giàu gây ra cho các nước nghèo, ông nghĩ sao về hai quan điểm trái ngược nói trên"

- Tôi thông cảm với phản ứng tự vệ trong ý hướng bảo vệ nông nghiệp Việt Nam của vị đại biểu muốn tăng mức trợ cấp cho nông gia Việt Nam nhưng lại đồng ý với quan điểm của vị đại biểu kia và mừng là có người đã nêu ra điều ấy cho công luận và chính quyền suy ngẫm.

Tôi xin đi từ nguyên tắc là chế độ tự do mậu dịch cũng đóng góp cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một nước y như hệ thống hạ tầng vật chất là cầu cống đường xá. Bây giờ, khi thấy một quốc gia giới hạn tự do mậu dịch của họ mà mình trả đũa bằng biện pháp bảo vệ thì chả khác chi là tự phá hoại cầu đường của mình để trả thù. Điều ấy gây bất lợi cho lâu dài vì cái được vốn dễ thấy, nhưng cái mất thì chẳng ai nhìn ra.

Hỏi: Khi ông nói về nguyên tắc thì cũng hàm ý là có nhiều biện pháp khác về thực tế"

- Trong thực tế thì không phải có xứ nào thi hành chế độ bảo vệ và trợ cấp lúa gạo - như trường hợp Hoa Kỳ mà ta đã tìm hiểu kỳ trước - thì mình sẽ cũng nên làm như họ. Điều ấy chỉ làm suy yếu khả năng cạnh tranh của mình và đánh mất một tín hiệu cần thiết về cung cầu là giá cả, hầu từ đó tính toán chính xác và nhậm lẹ hơn về việc sản xuất và phân phối.

Tuy nhiên, chính quyền và các cơ quan ngoài chính quyền, giới khoa học và giáo dục cần yểm trợ nông dân của mình về khoa học, kỹ thuật canh tác, về thông tin thị trường hầu nông gia biết cải thiện sản xuất và có phản ứng thích hợp với những xoay chuyển về giá cả hay sở thích trên thị trường quốc tế. Trợ giá nông phẩm vì vậy không có ích bằng, thí dụ như, giúp nông gia thấy trước và đối phó được hữu hiệu với nạn sâu rầy hay dịch bệnh đang hoành hành trên vựa lúa của miền Nam. Vì vậy, chúng ta nên quan niệm lại cách yểm trợ cho thực tế hơn.

Hỏi: Một cách cụ thể thì ông cho là Việt Nam nên ứng phó như thế nào"

- Tôi thiển nghĩ là nên định chế hoá việc yểm trợ nông nghiệp qua xây dựng hạ tầng tiêu tưới và vận chuyển, xay xấy, tồn trữ, qua việc nghiên cứu về hạt giống, các thứ dịch bệnh và qua các chương trình khuyến nông nhằm nâng cao năng suất và chủng loại mà vẫn bảo vệ được môi sinh. Còn trợ cấp bằng can thiệp tài chính vào giá cả chỉ là liều thuốc đổ bệnh. Đồng thời, Việt Nam nên dùng những cơ chế sẵn có như Tổ chức Thương mại Quốc tế WTO hay tổ chức Lương nông FAO của Liên hiệp quốc để nêu vấn đề và vận động việc giải phóng lúa gạo.

Hỏi: Trở lại đề tài giải phóng luá gạo cho các nước nghèo, xin ông trình bày khái quát về bối cảnh vấn đề. Trước hết là về sản xuất, sau đó là về xuất khẩu.

- Gạo là nguồn lương thực chính yếu của phân nửa nhân loại. Xưa nay, đa số các nước trồng chỉ đủ ăn và thực sự mới dư dôi để xuất khẩu từ đầu thập niên 90, từ mười mấy năm nay mà thôi. Việt Nam chỉ bắt đầu xuất khẩu sau khi bãi bỏ chế độ hợp tác nông nghiệp và giải phóng sức sản xuất của người dân. Mà Việt Nam cũng là quốc gia có mức ăn gạo cao nhất thế giới, bình quân là 232 ký một người trong một năm, so với gần 200 ký của một nước cực nghèo khác là Bangladesh, hay 165 ký của dân Thái Lan, 100 ký tại Hàn Quoốc hoặc chỉ có 66 ký tại Nhật.

Hỏi: Khi ông nói Việt Nam là quốc gia tiêu thụ gạo nhiều nhất trên thế giới thì giá lúa gạo là một yếu tố then chốt về mức sống người dân phải không"

- Thưa đúng như vậy, ngoài vàng và sau này là Mỹ kim, dân ta vẫn quen tính toán việc mua bán đổi chác với nhau qua một phương tiện giao hoán phổ biến là lúa. Các nước trồng gạo thì nhiều - nhưng đến 95% là các nước nghèo và phân nửa sản lượng là từ hai xứ đông dân nhất thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ. Thế mà dư thừa để xuất khẩu thì chẳng có bao nhiêu quốc gia. Bốn nước dẫn đầu là Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ và Hoa Kỳ thì đã chiếm đến ba phần tư là 75% ngạch số xuất khẩu của cả thế giới.

Thật ra, lượng gạo xuất khẩu chỉ chiếm có 6% của tổng số gạo thu hoạch được trên thế giới. Nhưng cái đỉnh mong manh ở trên, là thị trường xuất khẩu ấy, lại được bảo vệ rất kỹ, bảo vệ từ gốc là trợ cấp cho nông gia sản xuất, như tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Hàn và nhiều nước Âu châu, cho đến ngọn là qua chế độ trợ giá xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, nhất là cho loại gạo hạt tròn gọi là Japonica. Việc bảo vệ ấy chẳng những gây thiệt hại cho nước xuất khẩu khác - vỏn vẹn chừng một chục quốc gia - mà còn chi phối giá cả và mùa màng của các nước nghèo. Lý do là theo thống kê của cơ quan Lương nông FAO, các nước nghèo chiếm 83% số gạo xuất khẩu và 85% số gạo nhập khẩu của thế giới. Bây giờ, một số quốc gia đã phát triển mà thực sự không phải sống chết về gạo mà lại tiếp tục duy trì chế độ trợ cấp ấy thì tất nhiên gây thiệt hại đầy bất công cho thế giới.

Hỏi: Ông vừa nói ra vài con số đáng kinh ngạc, có bốn nước chi phối đến 75% lượng gạo xuất khẩu của thế giới là Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ và Hoa Kỳ, nhưng đồng thời các nước nghèo lại chiếm đến 83% số gạo xuất khẩu này. Điều ấy có nghĩa là ngoài Hoa Kỳ thì đại đa số các nước có gạo để bán ra ngoài đều thuộc loại nghèo và đang phát triển"

Thưa vâng, và đấy là một nghịch lý đáng chú ý. Ngoài Hoa Kỳ, có Australia và Nam Hàn cũng xuất cảng gạo, hai nước sau này vỏn vẹn chỉ có 2%, là thuộc loại đã công nghiệp hoá.

Còn lại là Pakistan, Egypt, Trung Quốc và Uruguay. Nghịch lý ở đây là Mỹ, với chính sách bảo hộ nặng nề không thua kém gì Liên hiệp Âu châu mà chỉ để bảo vệ quyền lợi cho một số dân rất ít ỏi và thực sự không phải là bần cùng nghèo túng. Họ là doanh gia về nông nghiệp, và nhóm doanh gia nhận trợ cấp nhiều nhất lại có lợi tức đồng niên chừng hơn 140 ngàn đô la, cao gấp hai lần rưỡi lợi tức bình quân của dân Mỹ. Đây là ta căn cứ trên thống kê của bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Và họ làm giới thọ thuế hay tiêu thụ Mỹ và nông gia xứ khác bị thiệt!

Nghịch lý ở đây là chế độ thuế quan trên thế giới khiến gạo đắt giá hơn 43% và riêng ảnh huởng của chính sách lúa gạo Mỹ khiến giá gạo thế giới bị sụt mất 6% chỉ để nâng cao lợi tức đến ba phần tư cho một thiểu số nông gia trồng gạo trong sáu tiểu bang của Hoa Kỳ.

Hỏi: Bây giờ, chúng ta sẽ nói đến việc giải phóng lúa gạo, điều ấy có nghĩa là gì"

- Điều ấy có nghĩa cụ thể là vận động các nước bãi bỏ chế độ trợ cấp sản xuất, nhất là tại các nước phát triển, và giải tỏa hết những rào cản về quan thuế nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu.

Trong hai phạm vi bảo vệ, ở sản xuất hay xuất nhập khẩu thì việc bãi bỏ chế độ bảo hộ trong xuất nhập khẩu sẽ có tác dụng lớn hơn cho thị trường lương thực của thế giới. Theo công trình nghiên cứu của FAO thì việc ấy sẽ nâng giá gạo xuất khẩu từ 10 đến 14% và đồng thời gia tăng lượng gạo buôn bán trên thế giới được từ 30 đến 45%, tùy loại gạo. Còn theo Ngân hàng Thế giới, nếu Mỹ giải phóng lúa gạo thì ngạch số gạo buôn bán trên thế giới sẽ tăng được 15%, giá xuất khẩu sẽ tăng được gần 33% và giá gạo nhập khẩu giảm được 13,5%.

Hỏi: Trên diễn đàn này, ông thường nói đến quy luật được thua, lợi hại của từng quyết định kinh tế. Trong việc giải phóng lúa gạo, nếu có nhiều thành phần sẽ được, thí dụ như xuất khẩu dễ dàng hơn với giá cao hơn, thì có ai bị thiệt do quyết định này hay không"

- Tất nhiên thì nhất thời là có. Hoàn cảnh của mỗi nước và sở trường của từng nước về loại gạo họ trồng trọt, tiêu thụ và buôn bán thì mỗi xứ mỗi khác, nhưng các nước thuần nhập, nghĩa là trồng không đủ gạo ăn, thì bị thiệt nhất, nếu giá gạo tăng. Ngược lại, các nước xuất khẩu như Việt Nam thì có lợi khi khối lượng và giá xuất khẩu sẽ tăng. Nông gia trồng lúa cũng có lợi nhờ lợi tức được nâng cao cùng giá gạo. Tuy nhiên, xét vào chi tiết thì mối lợi lớn nhất sẽ là của các nước trồng loại gạo hạt tròn Japonica, nhiều hơn là loại gạo hạt dài Indica hay gạo thơm. Cũng chính vì những đặc tính ấy mà các cơ quan khuyến nông của Việt Nam mới cần tìm hiểu tình hình thị trường thế giới để giúp đỡ nông gia của mình đa dạng hóa việc sản xuất hầu không chỉ có đủ gạo ăn mà còn cạnh tranh được với các nước khác ở nơi có lợi nhất.

Hỏi: Thế muốn đạt kết quả ấy, các nước cần phải làm gì và đâu là những trở ngại" 

Các nước nghèo xưa nay bị nạn đói ám ảnh nên có thể vì lý do an toàn lương thực mà duy trì chế độ trợ cấp nông nghiệp hầu tránh động loạn xã hội và lo đủ lương thực cho đại đa số dân chúng. Vì vậy, ta có thể thông cảm với họ, dù rằng việc ấy không có lợi về dài. Tuy nhiên, vấn đề chính thực ra không nằm ở chế độ trợ cấp sản xuất của các nước nghèo, nhất là khi đã dư thừa để xuất khẩu như Việt Nam. Vấn đề chính là chế độ bảo hộ mậu dịch của các nước giàu để yểm trợ xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu hầu ưu đãi một thiểu số dân chúng của họ mà gây thiệt hại cho người thọ thuế, người tiêu thụ và nông gia của các nước nghèo.

Hỏi: Câu hỏi cuối ở đây, thưa ông, liệu các quốc gia trên thế giới đã sẵn sàng để giải phóng lúa gạo hay chưa"

- Ngắn gọn thì chưa dù bị sức ép rất mạnh. Quốc gia nào cũng ưa tìm ra lý do chính đáng để đòi xứ khác thay đổi mà mình vẫn giữ nguyên trạng nếu điều ấy có lợi. Xu hướng bảo hộ mậu dịch tại Mỹ đã tìm ra một từ rất khéo, tức là không thật, để nói là "mậu dịch tự do" không có giá trị bằng "mậu dịch công bằng".

Cũng chính vì đặc tính ấy mà các nước đang phát triển lại càng phải tranh đấu mạnh hơn và với viễn ảnh sẽ gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới vào cuối tháng này, Việt Nam cần tự chuẩn bị cho việc đấu tranh và vận động ấy.

Qua năm tới, Đạo luật Nông nghiệp Mỹ, gọi là Đạo luật về An toàn Nông trang và Đầu tư Nông thôn, sẽ phải được Quốc hội Mỹ thảo luận lại với rất nhiều biện pháp bao cấp và sẽ gây phản ứng mạnh từ các nước khác, từ Liên hiệp Âu châu tới các nước đang phát triển. Đấy là cơ hội cho Việt Nam tiếp thu kinh nghiệm, cụ thể là học bài để chuẩn bị bảo vệ quyền lợi của mình. Và nếu có vận động hành lang thì đừng chỉ lo che chắn cho chuyện vi phạm nhân quyền mà phải nghĩ tới quyền lợi của nông dân.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi những trang hồ sơ Epstein lần lượt phơi bày ra trước công chúng như một trận mưa giấy màu đen đầy chất độc hại, có hai người phụ nữ bước ra trong bóng tối của kẻ săn mồi. Họ hiện diện ở hai tư thế hoàn toàn khác nhau, nhưng có một điểm trùng lắp với cái tên đang là nỗi ám ảnh trong ngôi nhà quyền lực nhất ở Washington, DC. Cuộc đời của hai người phụ nữ này, trực tiếp và gián tiếp, đều liên quan đến Jeffrey Epstein, tội phạm tình dục đã bị kết án và được cho là đã tự tử trong lúc thụ án.
Trên mặt tiền trụ sở của Mussolini ở Rome, từng có một dãy chữ khổng lồ lặp đi lặp lại: “SI SI SI SI SI” – “vâng, vâng, vâng, vâng, vâng” in kín cả mấy tầng lầu. Hình ảnh ấy không phải khẩu hiệu phức tạp, cũng không phải bản cương lĩnh chính trị. Nó giống như bản tóm tắt cô đọng của một chế độ sống nhờ thói quen gật đầu: chủ nghĩa phát xít không chỉ đứng trên những mệnh lệnh, mà đứng trên những tiếng “vâng” người ta nói ra – và cả những tiếng “không” bị nuốt lại.
Thế giới đang đứng trước nguy cơ bất ổn nghiêm trọng về an ninh chiến lược khi Hiệp ước New START – thỏa thuận quốc tế được Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký kết năm 2010 nhằm giới hạn kho vũ khí hạt nhân của hai nước – sẽ chính thức hết hạn vào ngày 5 tháng 2 năm 2026. Theo nội dung các điều khoản của hiệp ước, mỗi bên không được triển khai quá 700 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM), tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) và oanh tạc cơ có khả năng mang vũ khí hạt nhân; tổng số đầu đạn hạt nhân không vượt quá 1.550. Ngoài ra, số bệ phóng của mỗi nước bị giới hạn ở mức 800, và hai bên được quyền tiến hành các cuộc thanh sát lẫn nhau hằng năm, dù cơ chế này đã không còn được thực thi trong những năm gần đây. Dưới thời Tổng thống Joe Biden, vào năm 2021, New START đã được gia hạn một lần duy nhất thêm 5 năm.
Trong 22 năm làm cảnh sát, Phuson Nguyễn, một cảnh sát thủ đô (MPD), sinh năm 1979, con của một vị đại tá miền Nam Việt Nam, đã đối phó với hàng ngàn cuộc biểu tình theo Tu Chính Án Thứ Nhất. Lớn, nhỏ đều có. Anh nhận lệnh đến cuộc biểu tình ngày 6/1/2021 cũng bình thường như thế, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp của người dân. Lực lượng MPD có mặt ở thủ đô từ khoảng 10 giờ sáng. Cho đến lúc đó, MPD không nhận được bất kỳ thông tin tình báo nào cho thấy sẽ có bạo lực xảy ra. Ngồi trong xe tuần tra, Phuson quan sát người qua lại trong thủ đô. Theo thời gian, ngày càng nhiều người đi về phía Điện Capitol. Nhưng cả anh và đơn vị không nghĩ gì cả, “ít nhất là tôi và đơn vị của tôi, nghĩ rằng họ chỉ đến đó để biểu tình, và bày tỏ quan điểm, sự bất đồng của họ về kết quả bầu cử, điều mà họ có quyền làm.”
Cuối năm 1988, một chiếc ghe gỗ ọp ẹp chở 110 người Việt rời bờ trong đêm, lao ra biển Đông. Ba mươi bảy ngày lênh đênh, máy chết, ghe lạc ngoài khơi xa, lương thực và nước ngọt cạn dần; hơn phân nửa người trên ghe lần lượt gục xuống, xác họ thả xuống biển cho ghe nhẹ đi mà tiếp tục cuộc hành trình. Khi ngư dân Phi Luật Tân vớt được chiếc ghe gần thị trấn Bolinao, chỉ còn 52 người bám được vào cõi sống – về sau người ta gọi họ là Bolinao 52, đưa vào trại tị nạn, rồi lần lượt từng người đi định cư ở các xứ tự do. Những người chết mất xác cũng mất luôn tên gọi.
Trong nhiều tuần qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã huy động khoảng 3.000 nhân viên thuộc Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) đến Minneapolis, thành phố lớn nhất của bang Minnesota. Những hành động truy quét tàn bạo của ICE nhắm vào người nhập cư bất hợp pháp dẫn đến cái chết của Renee Nicole Good và Alex Pretti, hai người dân Mỹ da trắng, đã gây phẫn nộ trong dư luận và truyền thông quốc tế. Thực tế cho thấy ICE còn theo đuổi những mục tiêu chính trị rộng lớn hơn do Tổng thống Mỹ Donald Trump đề ra.
Lực Lượng Hải Quân Mỹ đang lặng lẽ thay đổi vị trí hoạt động, đúng vào thời điểm Iran, Nga và Trung Quốc đang thể hiện sự đoàn kết hải quân ngày càng tăng ở một số vùng biển căng thẳng và tranh chấp nhất trên thế giới. Theo các báo cáo khu vực, tàu sân bay USS Abraham Lincoln đã di chuyển về phía nam, định vị mình xa hơn bờ biển Iran so với trước đây.
Nếu chú ý, cú rơi tự do của tờ Washington Post gần như được báo trước từ giữa năm 2024, với nhiều tầng lý do. Thói quen độc giả thay đổi. Doanh thu quảng cáo in sụp đổ. Cạnh tranh khốc liệt từ mạng xã hội và trí khôn nhân tạo (AI). Bản thân The Post cũng chứng kiến lượng truy cập và thuê bao suy giảm, điều mà lãnh đạo viện dẫn để biện minh cho cắt giảm nhân sự. Nhưng, một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì. Một nửa sự thật thì nó là dối trá.
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.